Bàn về đa đảng

Trong Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phần Lý lịch của Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Đinh, Lê Thăng Long – bị truy tố về “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” quy định tại Điều 79 Bộ Luật hình sự, có ghi: “Đảng phái chính trị: Không”.

Điều này có nghĩa: ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có những đảng phái chính trị khác và những người trên không tham gia bất kỳ đảng phái chính trị nào, kể cả Đảng Cộng sản Việt Nam!

Quả là sấm nổ giữa trời quang vì từ trước tới nay, từ những đảng viên cộng sản đến những người chống cộng, từ trong nước ra ngoài nước, từ phương Đông đến phương Tây, đều có suy nghĩ được “mặc định” rằng ở Việt Nam chỉ có một đảng phái chính trị duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam!

Và với vị thế “duy nhất” này thì chả tuyên truyền ai cũng hiểu đảng này hiện độc quyền lãnh đạo Việt Nam.

Quy định trong hiến pháp

Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Vậy là rõ, Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam nhưng cũng rõ là không phải đảng phái chính trị duy nhất bởi không có câu, từ nào quả quyết như vậy!

Nói cách khác, chế độ “đa đảng” đã hiển hiện ngay trong Hiến pháp và Viện kiểm sát tối cao về điểm này đã tuyệt đối trung thành với Bộ Luật cao nhất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Để nói, tất thảy những khẳng định theo đó ở Việt Nam chỉ có một đảng phái chính trị duy nhất là Đảng cộng sản Việt Nam để rồi đổ cho nhà cầm quyền là “Độc tài”, là “phản Dân chủ”… quyết không thể đúng sự thật và trong trường hợp này hẳn là giọng lưỡi của “các thế lực thù địch” âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân thoát thai từ các cuộc tổng tuyển cử tự do và đa đảng hoặc của những kẻ bị các thế lực hắc ám nói trên “diễn biến hòa bình”!

Vả lại, điều không kém phần quan trọng là chế độ “đa đảng” bao hàm trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 hoàn toàn “khớp” với ba Hiến pháp tiền bối – 1946, 1959, 1980 – của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và hậu sinh Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà thân sinh của người viết bài này, Bộ trưởng Cù Huy Cận, cả ba lần đều là Tổng thư ký hoặc thành viên Uỷ ban soạn thảo.

Hiến pháp năm 1946 không hề nhắc tới đảng phái chính trị nhưng trên thực tế Quốc Hội khoá I bao gồm thành viên các đảng phái: Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh), Đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) bên cạnh các thành viên không đảng phái.

Hiến pháp năm 1959 trong Lời nói đầu có nói tới “sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Lao động Việt Nam” tuy các Điều, Khoản không hề đề cập đến đảng phái chính trị. Mặc dầu vậy có một thực tế là ngoài Đảng Lao động Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội hoạt động một cách công khai.

Hiến pháp năm 1980 tại Điều 4 quy định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.

Trên thực tế, cũng như thời kỳ Hiến pháp năm 1959, ngoài Đảng cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã Hội. Tuy nhiên đến năm 1988, hai Đảng này đã tuyên bố tự giải thể do đã “kết thúc sứ mạng lịch sử” của mình?! (kể cũng lạ, nếu “hoàn thành sứ mạng lịch sử giải phóng dân tộc” khỏi ách của thực dân Pháp thì lẽ ra phải tự giải thể từ năm 1954 khi Hiệp định Genève được ký kết mới phải, còn nói “sứ mạng lịch sử xây dựng Chủ nghĩa xã hội đã hoàn thành” thì rõ là lộng ngôn! Không lẽ “sứ mạng lịch sử” lại là tồn tại chừng nào Đảng cộng sản Việt Nam cần?!).

Kiến nghị

Bất luận thế nào thì việc Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tự giải thể hoàn toàn độc lập với sự ra đời của các đảng phái chính trị khác trong tương lai hay nói cách khác, không đồng nghĩa chấm dứt chế độ “đa đảng” ở Việt Nam.

Tóm lại, không có bất cứ Hiến pháp nào của Việt Nam quy định Đảng cộng sản Việt Nam và những tiền thân của đảng là đảng phái chính trị duy nhất cũng như trên thực tế đã có nhiều đảng phái chính trị khác, hoặc đối lập, hoặc “anh em”, hoạt động song song.

Như vậy, chế độ “đa đảng” là sự lựa chọn chính trị bất biến của toàn thể nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm thiết lập thành công nền Dân chủ Cộng hòa.

Nói cách khác, Dân chủ đồng nghĩa với Đa Đảng, càng có nhiều đảng phái chính trị tham gia tranh cử Quốc Hội một cách sòng phẳng thì Dân chủ càng cao!

Vấn đề còn lại là làm thế nào để vận hành chế độ “đa đảng” nhằm tránh tình trạng các đảng phái “tự xưng”, tức bất cần sự thừa nhận của luật pháp, dẫn đến tình trạng “vô chính phủ” về chính trị – một kẻ thù khác của nền Dân chủ ngoài chế độ cực quyền các kiểu.

Muốn vậy thì hãy bắt đầu bằng bổ sung Hiến pháp quy định đăng ký bắt buộc đối với đảng phái chính trị (không đăng ký thì không được phép hoạt động, tựa đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp) cùng lúc với quy định Tòa án tối cao là nơi đăng ký đảng phái chính trị cũng như quy định thiết lập Tòa án Hiến pháp hay Tòa Bảo Hiến nhằm xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp.

Chẳng hạn đảng phái chính trị nào cho dù đã đăng ký mà có chủ trương bằng văn bản hoặc hành vi dùng vũ lực để giành chính quyền hoặc tấn công các đảng phái chính trị hợp pháp khác lập tức sẽ bị Toà án Hiến pháp đặt ra ngoài vòng pháp luật và các thành viên của đảng đó sẽ bị các cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố và truy tố về “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” quy định tại Điều 79 hoặc/và “Tội khủng bố” quy định tại Điều 84 Bộ Luật hình sự!

Cũng như vậy, đảng phái chính trị nào mà có chủ trương bằng văn bản hoặc có hành vi ngăn cấm đảng phái chính trị hợp pháp khác cũng sẽ bị Toà án Hiến pháp “rút phép thông công”, cấm chỉ hoạt động.

Kết luận lại, cho đến thời điểm này đối với cơ quan công an và công tố Việt Nam thì Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Lê Thăng Long dứt khoát có tội vì các tổ chức mà những người này thành lập hoặc tham gia là các “tổ chức phản động” chứ không phải là các “đảng phái chính trị” được nhìn nhận hợp pháp.

Oái ăm thay, có đỏ mắt cũng chẳng tìm đâu ra “tổ chức phản động” hay “phản động” không chỉ tại Điều 79 mà ngay cả suốt dọc Bộ Luật hình sự hiện hành của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong khi một trong những nguyên tắc tối cao của Nhà nước pháp quyền là các cơ quan tư pháp chỉ được quyền điều tra và xét xử những gì được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật.

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ

Nguồn: BBCVietnamese

 

***

Tiêu Chuẩn Của Một Phiên Tòa Đúng Luật

Mở đầu năm 2010, ngành tư pháp trong nước sẽ lần lượt đưa các nhà dân chủ ra xét xử tại 3 nơi: Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng.

Chính quyền trong nước đã cam kết với dân mình là xây dựng một chế độ pháp quyền thượng tôn luật pháp, cam kết với thế giới sẽ thực thi nghiêm chỉnh các văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã ký, trong đó có các Tuyên ngôn về Nhân quyền, về các Quyền Dân sự.

Chưa bao giờ các phiên tòa ở Việt Nam lại được dư luận trong nước và công luận quốc tế

quan tâm theo dõi chặt chẽ như hiện nay, vì ai cũng cho rằng nhân dân Việt Nam rất xứng đáng được sống dưới một chế độ công bằng, nghiêm minh, dân chủ và văn minh, lấy nhân dân làm gốc.

Vậy thì trước khi các phiên tòa nói trên được mở ra, cũng nên nhắc lại để nhân dân và nhà cầm quyền cũng biết rõ thế nào là một phiên tòa đúng luật, hợp pháp, nghĩa là theo đúng Bộ Luật Hình sự và bộ Luật Tố tụng hình sự, cũng như theo đúng luật quốc tế.

Trước hết các phiên tòa cần xử công khai. Đất nước hiện trong thời bình. Không có một lý do nào để cấm người dân bình thường, cấm các nhà báo trong và ngoài nước, cấm các nhà ngoại giao, cấm người thân trong gia đình bị cáo đến dự (Trong vụ xử ông Trần Anh Kim ở Thái Bình tháng 12-2009, công an mặc thường phục được huy động đến ngồi kín phòng xử án, để viện cớ phòng chật, không cho dân, nhà báo, người thân của bị can vào dự).

Quan tòa, tức Hội đồng xử án, cần tỏ ra nắm vững luật. Cần thẩm tra xem những lời khai trước cơ quan điều tra, những lời thú tội, xin khoan hồng nếu có, có do thật lòng bị cáo hay đã bị truy bức, mớm cung, ép buộc hay không? (Ðiều 5 Bộ Luật hình sự: “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”).

Cũng cần nhắc đến Ðiều 12 Bộ Luật hình sự: “Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo”.

Điều 17 Bộ Luật hình sự cũng cần được tôn trọng đặc biệt: “Thẩm phán và bồi thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Điều này quy định hội đồng xét xử dựa vào pháp luật, và chỉ dựa vào pháp luật mà thôi, phải có đầy đủ bản lĩnh độc lập, không bị ảnh hưởng hay bị chỉ đạo, mệnh lệnh của bất kể ai khác, dù cho có lệnh ở cấp cao nào.

Mọi người đều biết các bị cáo sắp đưa ra xét xử đều có thái độ, lập trường và hành động chống âm mưu bành trướng của nước lớn, có những luận văn kêu gọi bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải và quần đảo thiêng liêng của tổ quốc, có hành động biểu tình ôn hòa bằng khẩu hiệu, biểu ngữ trước cơ quan ngoại giao của nước lớn, căng biểu ngữ ở nơi nhiều đồng bào qua lại, vậy hội đồng xử án cần kết luận rành mạch những luận văn và hành động ấy phạm luật ở chỗ nào, theo điều khoản nào, nếu định kết tội họ.

Theo tin từ trong nước, ngày thứ hai 18 và thứ ba 19-1 này tòa án Hà Nội sẽ xử phúc thẩm thày giáo Vũ Hùng, kỹ sư Phạm Văn Trội, nhà thơ Trần Đức Thạch; ngày thứ tư 20-1 tòa án Sài Gòn sẽ xử các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, luật sư Lê Công Định và thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung; ngày thứ năm 21-1 toà án Hải Phòng sẽ xử nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, các ông Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Kim Nhân, và Nguyễn Mạnh Sơn.

Còn việc xử cô Phạm Thanh Nghiên vẫn còn treo lơ lửng, vì cô gái bé nhỏ chỉ cân nặng 37 kilô này lại không nhẹ tý nào về gan vàng dạ sắt với đất nước và đồng bào, khi cô từ Hải Phòng vào tận Thanh Hóa để thăm hỏi bà con ngư dân bị người Trung Quốc bức hại, rồi trở về nhà đấu tranh thầm lặng bằng cách ngồi thiền trước biểu ngữ cô tự viết: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!” Thật khó thuyết phục bà con ta và thế giới như thế là hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân.

Các nhà báo quốc tế có mặt tại Việt Nam, các tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch, Amnesty International, Phóng viên Không Biên giới Reporters Without Borders, Uỷ ban bảo vệ tự do tôn giáo Quốc Hội Mỹ, Nghị Viện Liên Âu…đang rất quan tâm đến các phiên toà nói trên.

Đông đảo công ty xuất nhập khẩu quốc tế và đầu tư quốc tế cũng coi các phiên tòa trên là những buổi sát hạch rất chính xác để xem mức độ tôn trọng luật pháp ở Việt Nam đạt đến độ nào, chính quyền Việt Nam có đáng tin cậy hay không trong những cam kết chính trị, kinh tế, tài chính và đầu tư, kinh doanh buôn bán quốc tế.

Việt Nam hiện đã có hơn 10 ngàn luật sư và 15 ngàn nhà báo nói, báo viết, báo ảnh và báo mạng. Xem ra 2 giới luật sư và nhà báo là 2 đứa con ghẻ, con hư, con ương bướng khó dạy bảo của chế độ.

Chỉ đến khi nào giới luật sư và giới báo chí tự giành được vị trí xã hội xứng đáng, buộc chế độ phải trọng nể, do tích cực tham gia xây dựng một chế độ trong sạch, công bằng, bình đẳng, lúc ấy mới có thể có các phiên tòa diễn ra đúng luật.

Thế nhưng hiện nay, ông chủ tịch Triết và ông thủ tướng Dũng đều nói đến việc xét xử sẽ diễn ra “đúng tội, đúng người, đúng luật”.

Có bao nhiêu người dân Việt Nam ta tin ở lời hứa ấy?

Sau các phiên tòa tháng 1-2010 này ở Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng, câu trả lời sẽ rõ ràng minh bạch hơn.

Bùi Tín
Nguồn: VOA

Share