Kỷ niệm ngày sinh cố TTK Hoàng Minh Chính

Ngày 16 tháng 11 năm 2009, chúng ta kỷ niệm 89 năm ngày sinh cố Tổng Thư ký Hoàng Minh Chính – một con người bất khuất hết lòng với sự nghiệp chung của đất nước. Cụ Hoàng Minh Chính là cánh chim đầu đàn của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam, là người anh cả của Đảng Dân Chủ Việt Nam.

 Năm 2006, Đại hội Dân chủ Thế giới lần thứ Tư họp tại Thổ Nhĩ Kỳ, với 600 đại biểu của 125 quốc gia đã dành ngày cuối cùng để vinh danh hai nhà dân chủ Việt Nam kiên cường là Hòa thượng Thích Quảng Độ và Cụ Hoàng Minh Chính.

Tiếp nối sự nghiệp của người anh cả, Đảng Dân Chủ Việt Nam hôm nay kêu gọi toàn thể chí hữu trong và ngoài nước đẩy mạnh thực thi ước muốn của Cụ: xây dựng một Đảng Dân Chủ vững mạnh cho mục đích tối thượng TỰ DO DÂN CHỦ HOÁ ĐẤT NƯỚC.

Trong chiều hướng tham gia phát triển xã hội, anh chị em hãy cùng nhau thúc đẩy cho Việt Nam một nền giáo dục hiện đại và thực tiễn. Trước những vấn đề trong việc bảo vệ môi trường, lãnh thổ và biển đảo của Tổ Quốc trong thời gia qua, chúng ta không thể hoàn toàn tin cậy vào nhà nước. Với quyền hiến định của công dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, chúng ta phải thúc đẩy cho Việt Nam sớm có một nhà nước pháp quyền, nhân bản và minh bạch để đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, góp phần xây dựng xã hội công bằng, thịnh vượng.

 Kỷ niệm ngày sinh của cố Tổng Thư ký Hoàng Minh Chính năm nay, Đảng Dân Chủ nhắc nhở anh chị em luôn luôn hoạt động ôn hòa và tiếp tục đẩy mạnh vận động trả tự do cho các chí hữu tù nhân lương tâm: luật sư Lê Công Định, cựu Trung tá Trần Anh Kim, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung… và tất cả các nhà hoạt động dân chủ.

 Đảng Dân Chủ Việt Nam xin gửi đến quý vị và chí hữu lời chào đoàn kết.

Nguyễn Tâm
Đảng Dân Chủ Việt Nam

***

BẤT KHUẤT MỘT CON NGƯỜI

Ngày 16-11 năm nay là dịp kỷ niệm 89 năm ngày sinh của ông Hoàng Minh Chính, cựu Tổng thư ký Đảng Dân Chủ Việt Nam, và là người phục hoạt đảng dưới tên gọi Đảng Dân Chủ Thế Kỷ XXI, nay là Đảng Dân Chủ Việt Nam. Chúng ta, những người đã và đang đấu tranh vì dân chủ, tự do, tiến bộ cho dân tộc, những trí thức và nhiều thành phần khác trong xã hội từng là thành viên tập hợp dưới ngọn cờ Đảng Dân Chủ, cũng như hiện đang hưởng ứng phong trào, kể cả những đảng viên cộng sản lấy lương tâm làm lẽ sống, cùng lật lại những trang sử gắn với cuộc đời của ông – bất khuất một con người.

Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống chí sĩ Nam Hà, ông Hoàng Minh Chính từ rất trẻ đã tham gia phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Mười bảy tuổi, ông thoát ly gia đình, xung vào đội quân đánh Pháp, và hai năm sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng Sản. Năm 20 tuổi, ông bị chính quyền Pháp bắt và kết án 10 năm tù biệt xứ ra Côn Đảo. May thay là trên đường chuyển nơi giam trước khi đưa ra đảo, ông đã trốn thoát, trở lại bí mật tham gia hoạt động cách mạng. Năm 27 tuổi, ông đã là Bí thư Đảng Đoàn Trung ương Đảng Dân Chủ, kiêm Tổng thư ký Đảng Dân Chủ Việt Nam. Những năm sau đó, ông chuyển sang phụ trách công tác thanh vận, Bí thư Đoàn thanh niên cứu quốc, dẫn đầu đoàn đại biểu 150 thanh niên Việt Nam đi dự festival quốc tế. Là một nhà trí thức có tư hướng nghiên cứu triết học, ông được chuyển sang công tác trường Đảng. Năm 37 tuổi, ông đi tu nghiệp ở trường Đảng cao cấp tại Liên Xô, trở về nước vào năm 41 tuổi đã là Viện trưởng Viện Triết học, thuộc Ủy Ban Khoa học Xã hội Việt Nam.

Nhưng có lẽ  lúc bắt đầu tiếp cận và lĩnh hội tư tưởng từ các trường phái triết học, ở thời kỳ  thông tuệ nhất, dường như ông không thể ngờ rằng mình đã vận vào một nghiệp mới, một cái nghiệp mà cả phần đời còn lại ông không được “trách lẫn trời gần trời xa” (Nguyễn Du). Theo ông, triết học không chỉ dự báo xu hướng phát triển của dân tộc hay nhân loại, mà đồng thời để theo xu hướng đó, không nhất thiết lúc nào cũng thấy những “mâu thuẫn không thể giải quyết được” (Mác) để rồi dùng đến bạo lực cách mạng và chủ chiến đổ máu. Có nghĩa là triết học phải hướng tới nhân bản, vị tha, vì sự sống. Chính từ nhận thức đó mà trong những năm tháng tu nghiệp ở Liên Xô, ông đã nhìn thấy sự căng thẳng ngột ngạt suốt thời Stalin cai trị bằng chủ nghĩa cộng sản cực đoan và nhận chân quan điểm dung hòa của tư tưởng mới từ Tổng Bí thư Đảng Khơrutxop bắt đầu từ Đại hội lần thứ 20 của Đảng cộng sản Liên Xô. Tiếc thay, quan điểm đó khi đem về áp dụng tại Việt Nam, gặp phải sức cản cầm quyền trong Bộ chính trị Đảng Cộng Sản những năm 1960, một tai họa rất lớn đổ xuống đời ông và những người đồng chí của ông. Ở Hội nghị IX Đảng Cộng Sản năm 1967, khi được giao viết một báo cáo về tình hình quốc tế cộng sản để giải quyết bất đồng chủ trương đang chia thành hai nhóm, ông đã nêu cao quan điểm xóa bỏ đối đầu, tiến tới chung sống hòa bình giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản của Khơrutxop. Báo cáo bị bác bỏ, nhưng ông vẫn thiết tha với “đứa con tinh thần” của mình, tiếp tục ban hành một tài liệu tham khảo dày 200 trang tại Hội nghị. Cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những đảng viên cao cấp có tư tưởng ôn hòa đều ủng hộ tài liệu này. Nhưng nhóm chủ chiến mà đứng đầu là Tổng Bí thư Lê Duẩn lúc ấy đã toàn quyền. Vì thế cái ác bắt đầu lộng hành: trước tiên là vụ án “xét lại chống Đảng” còn để dấu hỏi chưa trả lời về sự tàn bạo và bất công đến ngày nay, tiếp theo là tang thương cả nước qua cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968.

Với ông Hoàng Minh Chính, có thể nói như cụ Nguyễn Du:

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Nhưng còn hơn thế  nữa, trong đời ông đã trải qua đến bốn cuộc bể dâu!

Thứ nhất, vào năm 1967, nhóm quyền lực trong Đảng Cộng Sản chụp lên ông cái mũ với tội danh “chống Đảng về mặt tư tưởng và đường lối”, để rồi sau khi trốn khỏi nhà tù thực dân Pháp, ông phải ngồi tù bởi chính những đồng chí cộng sản của mình từ năm 1967 đến 1973, rồi thêm ba năm sau nữa bị quản thúc! Ông hồi tưởng lại những ngày tháng trong tù: “…họ đầu độc tôi hai đợt bằng cách cho thức ăn có hóa chất độc, gây ốm mê man, miệng nôn trôn tháo, bụng quặn đau, toàn thân run rẩy suốt tuần (có bác sĩ khám chứng nhận đúng là bị ngộ độc thức ăn). Một lần tôi bị năm tên công an lực lưỡng xông tới bẻ quặt tay, nắm tóc, buộc giẻ bịt miệng rồi bóp cổ tôi chết ngất. Mục tiêu duy nhất của họ là hủy hoại sức khỏe, tiêu diệt ý chí phản kháng, buộc phải cúi đầu, quỳ gối nhận tội như lời hai sĩ quan tay sai của ông Lê Ðức Thọ đã thét vào mặt tôi…”. Ông được kết nạp Đảng năm 1939, 28 năm sau thì Đảng cộng sản bắt giam ông. Phải chăng sự kiện này trùng khớp ngẫu nhiên mà kỳ lạ với một nhận định của Bí thư Đảng Cộng Sản Nam Tư Milovan Djilas sau này: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim, đến 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”. Từ bỏ cộng sản ở ông là từ bỏ những ý tưởng điên rồ bạo lực dưới khái niệm “đấu tranh giai cấp”, mà khi soạn thảo báo cáo cho Hội nghị IX, ông đã mạnh dạn ly khai với những sai lầm ấy.

Thứ hai, khi đất nước đã vào thời kỳ Đổi mới, ông viết  đơn đề nghị tái xét xử công khai trước pháp luật vụ án trước đó mà ông là nạn nhân, lại bị kết tội “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nuớc, tổ chức xã hội và công dân” và ngồi tù thêm một năm nữa! Trong đời ông, ba lần ngồi tù cùng thời gian bị quản thúc, cộng gần 20 năm! Chúng ta thử đặt câu hỏi tội của ông là tội gì? Đó là tội: chỉ ra những sai lầm của Đảng Cộng Sản – những sai lầm đã, đang và sẽ còn gây ra tai họa cho nhiều người, thậm chí cho cả dân tộc! Nếu năm 1967, ông trong nhóm chủ trương ôn hòa thuyết phục được những bộ óc máy móc áp dụng bạo lực cách mạng thì hàng ngàn chiến sĩ đã không phải “sinh Bắc tử Nam” chẵng còn hài cốt, hàng ngàn người dân và lính của chế độ cộng hòa miền Nam, nhất là người dân Huế, đã không phải đổ máu xương một cách kinh hoàng! Chính Tổng Bí thư Lê Duẩn đứng đầu quyết tâm chủ chiến mới là người đáng bị xét xử về tội ác đẩy hàng trăm ngàn người vào cái chết ở giai đoạn này. Cái ác ấy, một khi đã gắn với quyền lực, vẫn tồn tại ngoài pháp luật, thậm chí còn được ca ngợi cho đến nay! Nhưng trong lương tri chân chính của con người, đó là một tội ác không không bao giờ phai mờ! Ngày nay, người dân vẫn thờ cúng những oan hồn vào 16 ÂL sau rằm hàng tháng, các chùa làm lễ cầu siêu, các nghĩa trang liệt sĩ thắp nến tri ân, hàng trăm gia đình tại Huế đón tết cổ truyền cũng là ngày giỗ gần như khắp các khu phố làng quê… phải chăng là một lời tố cáo tội ác đó?

Thứ ba, vào năm 1988, khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tại Việt Nam ông Hoàng Minh Chính bắt đầu vận động góp ý dự thảo”Thách thức và triển vọng”, cùng thành lập “Hội nhân dân chống tham nhũng”. Để cứu vãn sự tồn tại của mình, tiêu diệt những nhân tố có thể dẫn đến chia sẻ quyền lực lãnh đạo xã hội, Đảng cộng sản đã ngầm bố trí, dẫn đến tuyên bố Đảng Dân Chủ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử và giải thể. Chúng ta đã biết Đảng Dân Chủ Việt Nam thành lập ngày 30-6-1944, là chính đảng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản, trí thức yêu nước và tiến bộ Việt Nam, tham gia tổng tuyển cử tự do bầu Quốc hội đầu năm 1946. Từ năm 1954 đến 1975, đảng hoạt động tại miền Bắc. Bộ phận phía Nam tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Từ 1975 đến 1988, Đảng Dân Chủ vẫn chính thức hoạt động trên cả nước. Cho nên, một người thiển cận nhất cũng có thể đặt ngay câu hỏi: vì sao đến thời điểm ấy Đảng Dân Chủ hoàn thành nhiệm vụ lịch sử? Việc giải thể này, cũng như giải thể bộ đội Việt – Mỹ ngay sau giành chính quyền 1945, giải thể Đảng cộng sản để giấu mặt chuẩn bị tổng tuyển cử 1946, giải thể Việt Minh lập ra Mặt trận tổ quốc sau 1954, giải thể Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam sau 1975 và cũng gom vào Mặt trận tổ quốc cả nước… Một sự biến hóa sấp ngửa nhằm khai thác, lợi dụng và loại trừ mọi đối tượng khác, được ngụy trang bằng kết luận “đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử”.

Thứ tư, có  một nhân vật đảng viên lão thành trong Đảng cộng sản, cũng đồng thời nguyên là ủy viên Thường vụ Đảng Dân Chủ, ông Huỳnh Văn Tiểng, cho rằng ông cựu Tổng thư ký Đảng Dân chủ Hoàng Minh Chính không có tư cách phục hoạt Đảng vì đã bị khai trừ khỏi đảng này. Phụ họa với sự bôi nhọ của ông Tiểng, báo Nhân Dân trước đây, rồi báo Thanh Niên gần đây tuyên bố đảng mà ông Chính phục hoạt không gắn gì với cái tên của tổ chức Đảng Dân Chủ hiện nay. Người ta thấy bài viết của một tác giả có tên là Tử Du – cứ mỗi khi các báo của Đảng Cộng Sản đăng bài bôi nhọ sự thật là có một bút danh rất lạ, như chưa từng có danh tính, uy tín, hoạt động báo chí chuyên nghiệp và dám chịu trách nhiệm trước pháp luật cũng như đạo đức nghề nghiệp. Khi bị chỉ trích, những bút danh bí mật đó bỗng biến mất như chưa từng tồn tại. Chỉ riêng hiện tượng đó thôi cho thấy độ tin cậy của thông tin báo chí lề phải ra sao. Và những ý kiến bác bỏ trên đều không có một căn cứ pháp lý nào, như quyết định khai trừ chẵng hạn. Cho nên tất cả chỉ là dư luận. Đến nay, ông Tiểng cũng qua đời, không ai đứng ra bảo vệ và giải thích tiếp khẳng định của ông. Ngược lại, vẫn còn có một nhân vật “cây đa cây đề” của cách mạng Việt Nam, từng đứng trong Chính phủ lâm thời năm 1945 và tham gia Đảng Dân Chủ, ông Vũ Đình Hòe, năm nay 95 tuổi đang sống ở Sài Gòn, khẳng định ông Chính chưa từng bị khai trừ khỏi Đảng Dân Chủ. Mặc khác, cuốn băng mà gia đình của ông Chính ghi âm lại lời kể của ông Chính trên giường bệnh cũng cho thấy trình tự thời gian ông chuyển công tác là hoàn toàn trùng khớp thực tế lịch sử, không tìm thấy yếu tố bị khai trừ. Chúng ta cũng biết Đảng Dân Chủ phục hoạt từ ngày 1-6-2006, tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực vì dân sinh dân chủ, thu hút nhiều trí thức và các tầng lớp xã hội tham gia, đến nay Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam cũng không có một ý kiến chính thức nào. Lý giải sự im lặng này là sau khi bỏ đi từ “duy nhất” khẳng định Đảng Cộng Sản là lực lượng lãnh đạo xã hội trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 áp dụng đến hiện nay không có điều nào cấm thành lập các chính đảng. Điều 04 của Hiến pháp 1992 chỉ một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản (mà không còn là “duy nhất”). Sự im lặng ấy cũng đồng nghĩa ý kiến của ông Tiểng không xuất phát từ một căn cứ pháp lý nào. Rõ ràng, trong “cuộc bể dâu” lần thứ tư này của ông Hoàng Minh Chính, chân lý không còn thuộc về kẻ mạnh nữa, sự thật đã bắt đầu sáng ra.

Khi phục hoạt đảng Dân chủ, ông Hoàng Minh Chính hoàn toàn không có tư tưởng đánh đổ Đảng Cộng Sản, đứng ra thay thế vai trò lãnh đạo xã hội. Vấn đề ông muốn là phải có một bầu không khí chính trị công bằng, cân bằng, đa thành phần. Cụ thể là một xã hội đa đảng, các chính đảng cạnh tranh lành mạnh vì dân chủ dân sinh. Đó cũng là xu hướng của hầu hết các nền chính trị ở các quốc gia, ngoại trừ vài nước bảo thủ. Đó là quy luật tự nhiên như dân gian nôm na gọi là “chín người mười ý”, như các thành phần khí cấu tạo nên bầu khí quyển, như thảm động thực vật đa dạng trên mặt đất… Điều mà ông Hoàng Minh Chính chống lại là chống tư tưởng bảo thủ, cục bộ, lý luận máy móc, bạo lực đổ máu, và sau này là độc đoán, tham nhũng, bất tài. Thật vậy, vào năm 2008, trước khi qua đời, ông vẫn còn gửi tâm thư đến lãnh đạo Nhà nước Việt Nam. Nhưng với quan điểm bảo vệ sự lãnh đạo độc quyền của mình, Đảng Cộng Sản đã quy ông vào thành phần chống Đảng và nhân dân, không những ăn cắp gần 20 năm trong cuộc đời ông, mà còn để lại nhiều bệnh tật trong ông và hậu quả ở gia đình ông, cho Đảng Dân Chủ, cho tính nghiêm trị của pháp luật, cho sự nghiệp “xây dựng xã hội công bằng, dân chủ văn minh”…

Xưa kia, trong chế độ quân chủ, một quan thanh liêm không chịu sống quỳ như những quần thần xu nịnh, chỉ biết im lặng hoặc từ quan ở ẩn nếu không muốn bị chém. Vì thế, Nguyễn Công Trứ từng ước ao:

“Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”

Với bấy nhiêu cống hiến, hy sinh và chịu đựng nhục hình, với ước ao con người có thể đối xử tốt đẹp hơn, nhà nước của một dân tộc có thể làm những điều tốt đẹp hơn cho chính dân tộc mình… Có thể nói ngay những năm tháng sống bất khuất, thậm chí ngay giữa ngục tù mất tự do khi còn chưa qua đời, ông đã là một “cây thông đứng giữa trời mà reo”!

Đảng Dân Chủ hôm nay và những di nguyện ông để lại thật lớn lao, thôi thúc chúng ta cùng nắm tay nhau góp phần đưa dân tộc Việt tiến tới một tương lai tốt đẹp. Điều đó phụ thuộc vào nỗ lực thường xuyên của tất cả chúng ta. Dù ở trọng trách lãnh đạo hay chỉ góp tiếng nói và việc làm nho nhỏ, dù đang trong ngục tù hay sinh sống ở nước ngoài, dù ở những phân tầng xã hội khác nhau, những chí hữu và anh chị em, theo khả năng và hoàn cảnh của mình, hãy vì sự lớn mạnh của Đảng, có những đóng góp thiết thực. Chúng ta cần bước tiếp những bước mà ông Hoàng Minh Chính – BẤT KHUẤT MỘT CON NGƯỜI – một người anh cả tiên phong đã hết mình cống hiến, đã kết nối và thông tuyến con đường Đảng Dân chủ Việt Nam qua hai thế kỷ, đem lại những điều kiện thuận lợi nhất cùng cả dân tộc thẳng tiến đến tương lai.

Hà Thủy
16-10-2009

 

***

THƯ PHẢN ĐỐI BÁO THANH NIÊN VÀ TÁC GIẢ TỬ DU CỦA CỤ BÀ LÊ HỒNG NGỌC

Hà nội ngày 31/8/2009

Kính gửi:

– Ông tổng biên tập báo Thanh Niên – Hà Nội
– Đồng kính gửi ông Tử Du tác giả bài báo

Vừa qua trên báo Thanh Niên ngày 09-8-2009 có bài của tác giả Tử Du đã viết, tựa đề bài báo đó là “Sự thật về Đảng Dân Chủ Việt Nam phục hoạt”, trong nội dung bài báo đó đã nêu hoàn toàn sai sự thật những diễn biến lịch sử có liên quan đến ông Hoàng Minh Chính với dụng ý không đẹp đẽ gì. Ông Tử Du đã sử dụng nguyên văn lời phát biểu của ông Huỳnh Văn Tiểng (nay đã mất) mà không có sự điều tra, xác minh xem sự thật ra sao. Tác giả Tử Du đã viết: “Ông Hoàng Minh Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng Dân Chủ”?! Theo tôi nghĩ nguyên tắc chung là tại sao ông Huỳnh Văn Tiểng trước đây và ngày nay là tác giả Tử Du đã không gửi “văn bản kỷ luật bị khai trừ khỏi Đảng” đó cho ông Hoàng Minh Chính và gia đình chúng tôi được biết. Nhất là khi đó ông Chính vẫn còn sống để ông ấy được trực tiếp trả lời một cách đàng hoàng, minh bạch và rộng rãi nhất cho chính ông Huỳnh Văn Tiểng và công luận được sáng tỏ???

Cuối năm 2007 khi ông Hoàng Minh Chính nghe được tin có nội dung bịa đặt, hoàn toàn sai trái với sự thật lịch sử như vậy, mặc dù đang lâm bệnh rất nặng nhưng ông Chính vẫn cố gắng phát biểu vào băng ghi âm gửi lại cho gia đình gìn giữ, sử dụng để công bố sau này nếu thấy cần thiết. Lúc đó vì quá bận việc chăm sóc Cụ ông đang lâm trọng bệnh, tình cảnh thật ngặt nghèo nên gia đình chúng tôi không tiện đưa ra công khai nội dung bài phát biểu đó của Cụ ông được… Và chỉ ít tháng ngay sau đó thì Cụ ông đã qua đời vào đầu năm 2008 như dư luận đã biết rõ.

Cụ Vũ Đình Hoè là một nhân sĩ trí thức đã tham gia Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu ngay trong Lễ ra mắt ngày độc lập mùng 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình ở thủ đô Hà Nội với tư cách là bộ trưởng bộ giáo dục đầu tiên của nhà nước đa đảng, dân chủ của nước ta. Cụ còn là một nhân chứng hiện nay vẫn còn sống và đáng lưu ý các ông điều đặc biệt là, Cụ cũng nguyên là Uỷ viên thường vụ Đảng Dân Chủ Việt Nam. Hiện nay Cụ Vũ Đình Hòe đã trên 95 tuổi và vẫn đang sống tại Sài Gòn ( tức thành phố – Hồ Chí Minh bây giờ) cùng các con cháu trong gia đình. Cụ Hòe là một trong những người đồng chí đã từng làm việc, hoạt động cách mạng trực tiếp với ông Hoàng Minh Chính thời kỳ trước đây trong Đảng Dân Chủ Việt Nam quãng thời gian khá dài. Khi biết được chuyện không trung thực này của ông Huỳnh Văn Tiểng, nên Cụ Vũ Đình Hòe đã phải cười và phát biểu ngay rằng: “Ông Hoàng Minh Chính là thủ lĩnh Đảng Dân Chủ Việt Nam thì có, chứ không có ông Hoàng Minh Chính nào bị Đảng Dân Chủ Việt Nam khai trừ ra cả!!!”

Như mọi người đã biết, ông Hoàng Minh Chính là một con người đúng như trong bản điếu văn đã viết do Cụ luật sư Trần Lâm đọc trong Lễ Tang tại nhà tang lễ bệnh viện Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng – Hà Nội ngày 17/2/2008 : “Cụ Hoàng Minh Chính đến với chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một thanh niên yêu nước, dũng cảm, khát khao độc lập, tự do cho dân tộc và Cụ cũng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một trí thức yêu nước…”

Theo tôi nghĩ, đồng thời cũng chính là đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam chúng ta thì đối với người đã mất, cần phải có sự tôn trọng anh linh và hương hồn của họ. Bất cứ dù là ai càng không được nói những điều không đúng sự thật, không trung thực về người đã khuất.

Để rộng đường dư luận biết rõ hơn hư, thực về sự kiện này có liên quan làm đã tổn thương đến uy tín, danh dự của ông Hoàng Minh Chính và tiếp tục đầu độc dư luận bởi những luận điệu bịa đặt mang tính hệ thống và hoàn toàn có tính toán, rất bài bản. Nên hôm nay gia đình chúng tôi không biết nói gì hơn là việc cho đăng lại thật công khai, rộng rãi, trung thực toàn văn lời nói qua băng ghi âm của Cụ ông Hoàng Minh Chính đã phát biểu về việc này ngay từ trên giường bệnh vào ngày 29 tháng 10 năm 2007 để công luận cùng sáng tỏ.

Phần âm thanh:

Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn các ông đã xem thư và theo dõi nguyên văn bài phát biểu của ông Hoàng Minh Chính đã được gia đình chúng tôi chép ra, rồi đính kèm với bức thư này để phổ biến trước công chúng trong và ngoài nước cùng biết.

Tôi cũng sẵn sàng cung cấp cho mấy ông bản sao của cuốn băng ghi âm này để các ông tiện theo dõi và đối chiếu nếu các quý vị thấy có nhu cầu.

Kính chào các ông,

Thay mặt gia đình ông Hoàng Minh Chính – bà quả phụ Lê Hồng Ngọc đã ký.

Điện thoại số : 0902-583-552
Địa chỉ nhà ở hiện nay : Ngõ số 26, phố Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, TP – Hà Nội

 


Tham khảo:

Sự thật về “Đảng Dân chủ Việt Nam phục hoạt” – Bài 1: “Phục hoạt” hay chiếm đoạt danh xưng?

Sau việc cơ quan an ninh Việt Nam bắt giữ Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim… để điều tra, một số trang web có nguồn gốc hải ngoại đưa ra những thông tin sai lệch về một “Đảng Dân chủ Việt Nam phục hoạt” nhằm đánh lừa dư luận. Đâu là sự thật?

Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi – người chống đối chính quyền Việt Nam nói trên trang web của đài Châu Á Tự Do rằng: “ …Nói Đảng Dân chủ Việt Nam là một đảng lưu vong phản động thì hoàn toàn không đúng, tại vì Đảng Dân chủ Việt Nam là đảng đã thành lập tại Việt Nam từ năm 1944 và đã được phục hoạt bởi GS Hoàng Minh Chính cách đây 3 năm, có thể nói căn bản của Đảng Dân chủ Việt Nam là ở trong nước chớ không phải ở ngoài nước. Và việc công an Việt Nam hay sử dụng những từ ngữ như là “phản động”, “lật đổ chính quyền” để cáo buộc cho những người nào phê bình chính phủ hay là không cùng chính kiến với đảng cầm quyền thì rõ ràng là không đúng sự thật và hoàn toàn có tính cách xuyên tạc… Đảng Dân chủ Việt Nam là một đảng được thành lập từ năm 1944 và đến năm 2006 thì cố Tổng thư ký Hoàng Minh Chính đã lãnh đạo Đảng Dân chủ Việt Nam với một đường lối hoàn toàn mới, tuy nhiên vẫn hoạt động ôn hòa và chủ trương dân chủ hóa đất nước, đoàn kết và phát triển. Đó là 3 chủ trương chánh của Đảng Dân chủ Việt Nam…” (!?)

Nghe có vẻ “có lý” nhưng nếu không cẩn thận thì dễ bị mắc lừa.

Nếu cứ xem ông Nguyễn Xuân Ngãi là một chánh trị gia đúng nghĩa, thì hẳn ông phải biết những nguyên tắc khế ước xã hội đầu tiên. Một quyết định bất kỳ do một tổ chức nào ban hành cũng phải do chính người đứng đầu tổ chức đó ký phát, nếu người đứng đầu vắng mặt thì phải ủy quyền lại cho người được tổ chức đó cho phép ký thay. Cấp nào ký quyết định thì cấp đó mới có quyền rút lại hoặc hủy quyết định đã ký. Trong cùng một ngành quản lý thì người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên có quyền ký hủy bỏ quyết định của cơ quan quản lý cấp dưới.

Người đứng ngoài cơ quan, tổ chức, không có quyền ra những quyết định của cơ quan, tổ chức mà người đó không tham gia. Nguyên tắc cơ bản này áp dụng cho tất cả các tổ chức, đơn vị, đoàn thể tại tất cả các quốc gia trên thế giới. Giám đốc cơ quan FBI làm việc dưới quyền Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, nhưng lại  được bổ nhiệm hoặc bị miễn nhiệm bởi một quyết định của Tổng thống Hoa Kỳ, không thể có chuyện vì lý do nào đó mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoa Kỳ ký quyết định bổ nhiệm giám đốc FBI thay tổng thống.

Trở lại chuyện Đảng Dân chủ Việt Nam, trước hết phải ghi nhận vai trò của đảng này trong việc tập hợp lực lượng, đoàn kết mọi thành phần dân chúng trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp và các lực lượng can thiệp do Mỹ đứng đầu. Được thành lập vào ngày 30.6.1944, với thành phần ban đầu là các nhà tư sản, trí thức yêu nước với tôn chỉ, mục đích của Đảng là đoàn kết, cùng nhân dân đấu tranh, giành độc lập cho dân tộc, xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh. Đảng Dân chủ ra đời có sự hậu thuẫn của Đảng Cộng sản Đông Dương nhằm “đập tan âm mưu thâm độc của phát xít Nhật định lôi kéo tư sản dân tộc và các tầng lớp trí thức Việt Nam”.  Ngay sau đó Đảng Dân chủ đã gia nhập Mặt trận Việt Minh. Cùng với Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Dân chủ đã tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời, Đảng Dân chủ đã cùng Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam để chống các lực lượng can thiệp Mỹ. Từ ngày 30.4.1975 cho đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại trên toàn quốc Việt Nam. Đến năm 1988, với lý do đã kết thúc sứ mạng lịch sử, Đại hội đại biểu Đảng Dân chủ họp từ ngày 18 đến ngày 20.10.1988 đã ra tuyên bố giải thể Đảng.

Dù hòa bình đã 34 năm, vẫn không người lớn nào quên hình ảnh lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với ngôi sao vàng trên nền nửa đỏ nửa xanh dương. Một nửa màu xanh dương ấy chính là màu của đảng kỳ Dân chủ. Đạo diễn – Nghệ sĩ ưu tú Thanh Hạp, người từng đóng vai cậu bé Lê Văn Tám trong vở kịch Lửa cháy lên rồi của đạo diễn Phan Vũ, đến tận những năm 1993, khi gặp tác giả tại TP.HCM vẫn còn hát véo von đảng ca Dân chủ với lời kết “Màu xanh Dân chủ, sáng soi muôn đời” mà ông thuộc làu qua hai mùa kháng chiến… Những cựu đảng viên đảng Dân chủ có quyền tự hào về quá trình hoạt động chính trị của Đảng mình và cá nhân mình trong sự nghiệp thống nhất đất nước, vì hòa bình dân tộc. Và họ rất ngạc nhiên khi nghe tin đảng Dân chủ của mình tái hoạt động với cái danh nghĩa “phục hoạt”.

Thì ra sau chuyến đi Mỹ về, chẳng biết nghe theo ai mà ngoài những lời lẽ kêu gào quốc tế đừng mua hàng của Việt Nam sản xuất, đừng viện trợ phát triển cho Việt Nam dù cả với hình thức cho vay, để cho dân Việt Nam ý thức rằng phải… đứng lên mà đòi dân chủ (!), ông Hoàng Minh Chính đã lấy tư cách nguyên Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam tuyên bố “phục hoạt” Đảng này vào ngày 1.6.2006. Đây là “cơ sở pháp lý” duy nhất cho ông Nguyễn Xuân Ngãi lập luận “có thể nói căn bản của Đảng Dân chủ Việt Nam là ở trong nước chớ không phải ở ngoài nước”. Vậy cơ sở pháp lý này có đứng vững không?

Tử Du
Nguồn: Thanh Niên

***

Sự thật về “Đảng Dân chủ Việt Nam phục hoạt”

Bài 2: Đi ngược bản chất và nguyện vọng Đảng Dân chủ trước đây

“Tôi xin nhấn mạnh rằng, Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng “khôi phục” về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988”. Nhà văn hóa Huỳnh Văn Tiểng – nguyên Ủy viên Thường vụ Đảng Dân chủ – đã từng khẳng định như thế.

Theo hồ sơ của Đảng Dân chủ Việt Nam thì Tổng thư ký Hoàng Minh Chính đã bị khai trừ khỏi đảng này từ thập niên 60 thế kỷ trước, và từ năm 1958 đến lúc giải thể năm 1988, người lãnh đạo chính đảng này là Tổng thư ký Nghiêm Xuân Yêm.

Do bị khai trừ khỏi Đảng Dân chủ, ông Hoàng Minh Chính không có tư cách sử dụng vị trí “nguyên Tổng thư ký” để ra bất cứ văn bản nào nhân danh tổ chức này, ngay cả tư cách đảng viên để tham dự đại hội và góp ý về văn bản, nghị quyết của đảng này cũng không có. Vậy thì cái tuyên bố “Phục hoạt” Đảng Dân chủ của ông Hoàng Minh Chính có được công nhận hay không? Nếu còn có tâm huyết “phục hồi Đảng Dân chủ vì sự nghiệp dân tộc”, sao ông Chính không gửi ý kiến phục hồi tổ chức này ngay từ năm 1988 mà phải đợi chờ đến 18 năm sau mới “phục hoạt”? Câu trả lời quá đơn giản, ngay năm 1988, yêu cầu của ông ta đi ngược với nghị quyết của Đại hội Đảng Dân chủ và bản thân ông sẽ vấp phải sự phản đối của các đảng viên đang còn sinh hoạt tới thời điểm đó, những người chưa bị Đảng Dân chủ khai trừ.

Ngay lúc ông Hoàng Minh Chính tuyên bố “phục hoạt” Đảng Dân chủ và tự phong mình làm “Tổng thư ký”, nhà văn hóa Huỳnh Văn Tiểng (vừa từ trần) – nguyên Ủy viên Thường vụ Đảng Dân chủ đã có ý kiến: “Tôi ngạc nhiên khi nghe tin ông Hoàng Minh Chính ra tuyên bố cái gọi là khôi phục “Đảng Dân chủ”. Bản thân ông Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng Dân chủ từ lâu; khi không được sự đồng tình của số đông cựu đảng viên, ông không có quyền và không đủ tư cách đứng ra khôi phục Đảng. Bản thân tôi từng là đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam, nguyên Ủy viên Thường vụ Đảng Dân chủ Việt Nam từ năm 1944 đến năm 1988. Tôi có biết ông Hoàng Minh Chính và nghe nhiều anh em trong Đảng Dân chủ nói về ông ấy. Năm 1946, khi tôi ra Hà Nội, ông Chính với vai trò là Thư ký thường trực của Đảng Dân chủ, đã thay mặt Đảng tiếp tôi. Nhìn chung ông Chính là người lanh lợi, nhanh nhẹn. Tuy nhiên, thời gian về sau ông Chính đã gây mâu thuẫn trong Đảng Dân chủ và bị coi là chống Đảng. Khi đó, Đảng Dân chủ có xu hướng ủng hộ đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh: kháng chiến, kiến quốc và bảo vệ quyền lợi của số đông, trong khi ông Chính chỉ bảo vệ quyền lợi của một ít nhà tư sản, đưa ra quan điểm chỉ những người giàu mới được phép đến Hà Nội học. Ông Chính đã không nhận được sự đồng tình của đa số thành viên Đảng Dân chủ (một số người nói với tôi: “Nghe ông ấy là hỏng đấy!”). Vì vậy, ông Chính bị khai trừ khỏi Đảng Dân chủ.


Các lãnh đạo chủ chốt của Đảng Dân chủ (1944-1988):

– Dương Đức Hiền – Tổng thư ký đầu tiên
– Nghiêm Xuân Yêm – Tổng thư ký từ năm 1958 đến khi giải thể (1988)
-Vũ Đình Hòe
– Trần Đăng Khoa – Phó tổng thư ký
– Đỗ Đức Dục – Thành viên sáng lập, Phó tổng thư ký
– Phan Mỹ – Luật sư, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng
– Hoàng Minh Chính – Tổng thư ký, bị khai trừ trong thập kỷ 1960
– Hoàng Văn Đức – Đại biểu Quốc hội khóa I


Tôi cho rằng sự hiện diện của Đảng Dân chủ và một số đảng khác tại Việt Nam trong những năm đầu phấn đấu giành độc lập cũng như củng cố nền độc lập là có cơ sở. Bởi vì, khi đó, nhiều tầng lớp trong xã hội còn chưa hiểu Đảng Cộng sản, cần có những đại diện của họ hướng họ vào mục tiêu đấu tranh chống thực dân. Nhưng sau vài thập kỷ, Đảng Cộng sản đã chứng minh được vai trò của mình: lãnh đạo đất nước đấu tranh giành độc lập, thống nhất thành công; và suốt trong ba thập kỷ  tiếp theo đã lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn. Nhìn chung, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thu phục được lòng người. Chính sách đại đoàn kết của Đảng Cộng sản chú trọng phát huy sức đóng góp của mọi thành phần giai cấp trong xã hội. Vì vậy, đã đến lúc không cần đến những đảng phái khác, dễ gây chia rẽ nội bộ.

Tôi xin nhấn mạnh rằng, Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng “khôi phục” về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988. Tôi được biết, Đảng Dân chủ hiện nay là tập hợp của một số ít người bị xúi giục, thậm chí bị mua chuộc, kích động hoặc mang sự ấm ức với chính quyền trong nước, khác hẳn với suy nghĩ tâm huyết của số tư sản, trí thức yêu nước hoạt động với tôn chỉ đại đoàn kết trước đây. Cuối cùng, xin được nói rõ rằng, đông đảo những cựu đảng viên Đảng Dân chủ hiện nay không có ý định khôi phục Đảng Dân chủ. Do vậy, ông Hoàng Minh Chính phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc làm có dụng ý xấu của mình”.

Về cơ sở pháp lý cho “Đảng Dân chủ Việt Nam phục hoạt” của ông Hoàng Minh Chính, nói như vậy có lẽ là đã đủ. Nhưng để cho khách quan, xin nêu một chứng cứ khác. Trong bài phỏng vấn của đài BBC với Trần Khuê – nhân vật được phong là “Phó tổng thư ký Đảng Dân chủ”, khi viết và hỏi ông Trần Khuê, thay cho cụm từ “phục hồi” hay “phục hoạt”, BBC đã chỉ dùng cụm từ “thành lập từ 1.6.2006”, ông Khuê đã không lần nào phản đối hay cải chính. Như vậy, hẳn quá đầy đủ để trao đổi với ông Nguyễn Xuân Ngãi về tính chính xác của những gì mà ông nói về cái căn bản của “Đảng Dân chủ Việt Nam thế kỷ 21” mà theo ông là “chính đảng đã được thành lập từ năm 1944 và đến năm 2006 thì cố Tổng thư ký Hoàng Minh Chính đã lãnh đạo theo một đường lối mới…” (?!)

Nói như một nhà kinh doanh lương thiện thì hành vi “phục hoạt” Đảng Dân chủ Việt Nam theo kiểu cách nói trên là hành vi “chiếm đoạt thương hiệu”. Hành động này không những trái ngược với nguyện vọng mà còn xúc phạm tới những cựu đảng viên Dân chủ đã từng hy sinh tài sản, tuổi xuân và cả máu thịt của mình để tưới cho tươi màu xanh của đảng kỳ Dân chủ trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại để giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Tử Du
Nguồn: Thanh Niên

 


Tham khảo:

Ông Huỳnh Văn Tiểng, nguyên uỷ viên Thường vụ Đảng dân chủ Việt Nam (1944-1988):

“Tôi ngạc nhiên khi nghe tin ông Hoàng Minh Chính ra tuyên bố cái gọi là khôi phục “Đảng Dân chủ”. Bản thân ông Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng dân chủ từ lâu; khi không được sự đồng tình của số đông cựu đảng viên ông không có quyền và không đủ tư cách đứng ra khôi phục Đảng” – Ông Huỳnh Văn Tiểng, nguyên uỷ viên Thường vụ Đảng dân chủ Việt Nam (1944-1988), nguyên đại biểu Quốc hội khoá I, II, III nói.

Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời năm 1944 với thành phần ban đầu là các nhà tư sản, trí thức yêu nước. Tôn chỉ, mục đích của Đảng là đoàn kết, cùng nhân dân đấu tranh, giành độc lập cho dân tộc, xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh.

Thời gian đầu, Đảng Dân chủ có mục tiêu tập hợp lực lượng chống thực dân, đế quốc. Quá trình tồn tại, Đảng Dân chủ đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tập hợp những nhà tư sản yêu nước ủng hộ, hợp tác với Đảng Cộng sản Đông Dương đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Năm 1988, Đảng Dân chủ tự giải thể vì xét thấy đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình.

Bản thân tôi từng là đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam, nguyên Uỷ viên Thường vụ Đảng Dân chủ Việt Nam từ năm 1944 đến năm 1988. Tôi có biết ông Hoàng Minh Chính và nghe nhiều anh em trong Đảng Dân chủ nói về ông ấy. Năm 1946, khi tôi ra Hà Nội, ông Chính với vai trò là thư ký thường trực của Đảng Dân chủ, đã thay mặt Đảng tiếp tôi.

Nhìn chung ông Chính là người lanh lợi, nhanh nhẹn. Tuy nhiên, thời gian về sau ông Chính đã gây mâu thuẫn trong Đảng Dân chủ và bị coi là chống Đảng. Khi đó, Đảng Dân chủ có xu hướng ủng hộ đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh: kháng chiến, kiến quốc và bảo vệ quyền lợi của số đông, trong khi ông Chính chỉ bảo vệ quyền lợi của một ít nhà tư sản, đưa ra quan điểm chỉ những người giàu mới được phép đến Hà Nội học. Ông Chính đã không nhận được sự đồng tình của đa số thành viên Đảng Dân chủ (một số người nói với tôi: “Nghe ông ấy là hỏng đấy!”). Vì vậy, ông Chính bị khai trừ khỏi Đảng Dân chủ.

Tôi cho rằng sự hiện diện của Đảng Dân chủ và một số đảng khác tại Việt Nam trong những năm đầu phấn đấu giành độc lập cũng như củng cố nền độc lập là có cơ cở. Bởi vì, khi đó, nhiều tầng lớp trong xã hội còn chưa hiểu Đảng Cộng sản, cần có những đại diện của họ hướng họ vào mục tiêu đấu tranh chống thực dân. Nhưng sau vài thập kỷ, Đảng Cộng sản đã chứng minh được vai trò của mình: lãnh đạo đất nước đấu tranh giành độc lập, thống nhất thành công suốt; và trong ba thập kỷ và tiếp theo đã lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn. Nhìn chung, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thu phục được lòng người. Chính sách đại đoàn kết của Đảng Cộng sản chú trọng  phát huy sức đóng góp của mọi thành phần giai cấp trong xã hội. Vì vậy, đã đến lúc không cần đến những đảng phái khác, dễ gây chia rẽ nội bộ.

Tôi xin nhấn mạnh rằng , Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng “khôi phục” thì  về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm  1944 đến 1988. Tôi được biết, Đảng Dân chủ hiện nay là tập hợp của một số ít người bị xúi giục, thậm chí bị mua chuộc, kích động hoặc mang sự ấm ức với chính quyền trong nước, khác hẳn với suy nghĩ tâm huyết  của số tư sản, trí thức yêu nước hoạt động với tôn chỉ đại đoàn kết trước đây.

Cuối cùng, xin được nói rõ rằng, đông đảo những cựu đảng viên Đảng Dân chủ hiện nay không có ý định khôi phục Đảng Dân chủ. Do vậy, ông Hoàng Minh Chính phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc làm có dụng ý xấu của mình.

Huỳnh Văn Tiểng
Nguồn: Vietnamnet

 02/06/2006

Share