Một số lực cản truyền thống văn hóa đến việc xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật hiện nay

Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang phấn đấu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Cho nên, việc xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan.

Song, để đạt được điều này không phải là đơn giản, bởi nó có ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, mà truyền thống văn hóa là một trong những yếu tố đó. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu một số lực cản từ truyền thống văn hóa đến việc xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật.

Nước ta vốn đi lên từ một nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, lại phải liên tục trải qua các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Mỗi chế độ cầm quyền đều có cách cai trị, quản lý xã hội riêng của mình, nhưng cơ bản xã hội truyền thống Việt Nam có một kết cấu chung là: nhà – làng – nước. Trong đó, làng là những đơn vị trung tâm, tương đối ổn định, trong làng có các mối quan hệ gia đình – tông tộc, ngoài làng có mối quan hệ liên làng, siêu làng, cộng đồng siêu làng lớn nhất là nước Việt Nam. Làng là nơi diễn ra các hoạt động lao động sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân chính đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử đó đã hun đúc nên các giá trị truyền thống văn hóa, các phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam như yêu nước, thương người, tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập tự cường, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất. .. Tuy nhiên, cũng chính những đặc điểm nêu trên lại tạo ra cho văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam những khiếm khuyết như tính tự do, tùy tiện, ý thức cục bộ, địa phương, chưa có ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật

Truyền thống văn hóa có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, có ảnh hưởng không nhỏ đối với việc thực thi pháp luật. Và thực tế ở nước ta hiện nay, cả pháp luật và văn hóa đã và đang điều chỉnh hành vi của con người trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Ở một phạm vi nhất định, văn hóa đang tác động đến con người nhiều hơn là pháp luật. Bởi phần đông người Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến pháp luật và ngay khi đã biết quy định của pháp luật thì họ vẫn hành động theo thói quen, theo những kinh nghiệm văn hóa của mình. Nhiều khi, những hành vi vi phạm pháp luật vẫn diễn ra như một thách thức đối với mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Lực cản từ truyền thống văn hóa đến việc xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật hiện nay được biểu hiện cụ thể ở một số khía cạnh như sau :

1. Lực cản từ truyền thống văn hóa đến ý thức nhân viên công quyền

Trước tiên, người Việt xưa rất hiếu học, nhưng là sự hiếu học có mục đích, đó là “học để làm quan”. Dưới chế độ phong kiến, đa phần “thần dân” đều nghèo khổ, cơ cực, trong khi đại bộ phận quan lại thì giàu có, nhiều quyền hành. Vì vậy, để “đổi đời” để có chức quyền, để hưởng vinh hoa phú quý thì chỉ có chuyên tâm học hành, “lều chõng đi thi” mới có thể đạt được điều đó. Như GS Cao Xuân Hạo đã khẳng định: “Ngày xưa, cha ông ta vốn không phải vì hiếu học mà học. Họ vì ý chí làm quan mà học. Họ không còn cách nào khác để thoát khỏi cái thân phận tủi nhục của kẻ nghèo hèn”. Chính từ tâm lý học để ra làm quan ấy đã nảy sinh tâm lý coi trọng bằng cấp và thi cử hơn thực học. Vậy nên, phần đông học sinh hiện nay muốn vào đại học để có thể được ra làm quan mà không muốn học nghề để làm thợ. Một số người lại sẵn sàng bỏ tiền của ra để mua bằng, gây nên nạn làm bằng giả. Một bộ phận không nhỏ khác thì “học” chỉ nhằm có được tấm bằng mà không quan tâm đến việc tích lũy tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng…, sau khi có bằng cấp lại “tìm cách ra làm quan” để mong được hưởng vinh hoa phú quý.

Tầng lớp quan lại phong kiến xưa không phải sống bằng lượng mà chủ yếu là bằng bổng lộc của triều đình và một bộ phận lợi dụng quyền lực để hạch sách, áp bức nhân dân nhằm nhận đồ “biếu xén”. Tất nhiên, không phải tất cả quan lại đều như vậy, nhưng một bộ phận không nhỏ đã làm vậy. Cho nên dân gian đã đúc kết thành câu ca dao: “Con ơi mẹ bảo câu này, / Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”. Nhà nước phong kiến là nhà nước của vua, do vua và vì vua. Đất đai, tài nguyên và mọi của cải vật chất của xã hội đều thuộc về nhà vua. Vậy nên vua, quan có quyền thu thuế, có quyền áp bức nhân dân. Quan lại thay mặt vua quản lý điều hành công việc ở các tổng, huyện, xã, làng... nên họ có đặc quyền, đặc lợi ở các địa phương đó. Như Trần Thành đã tổng kết rằng, mỗi lần quan lại chia lại công điền, thu thuế, xây dựng công trình công cộng… là một dịp để họ làm giàu bằng tham ô. Họ lợi dụng chủ trương bắt phu, tuyển lính hay đứng ở cương vị giải quyết tranh chấp… để ăn hối lộ.

Trong giai đoạn hiện nay, mặt trái của cơ chế thị trường cộng với quan niệm từ xưa là làm quan có quyền nhận hối lộ nên đã tác động tiêu cực vào xã hội, làm cho tình trạng tham nhũng trở nên “có xu hướng phát triển ngày càng nghiêm trọng hơn”. Từ số tiền ít tới số tiền nhiều, từ tính chất thấp tới tính chất nghiêm trọng, “móc nối trên dưới, trong ngoài” từ cấp thấp tới cả một số người giữ trách nhiệm cao… Có những vụ án hết sức nghiêm trọng, đưa ra xét xử làm cho nhân dân sửng sốt, gây bất bình trong xã hội. Chẳng hạn, trong hai năm 2007 – 2008, thanh tra Chính phủ và thanh tra các bộ, ngành, địa phương đã tiến hành 27.783 cuộc thanh tra kinh tế, xã hội và thanh tra chuyên môn. Kết quả phát hiện sai phạm với tổng giá trị là 12.720 tỷ đồng, 19.501 ha đất, kiến nghị thu hồi 8.963 tỷ đồng, 16.643 ha đất, kiến nghị xử lý kỷ luật 5.244 người, trong đó có rất nhiều sai phạm liên quan đến tham nhũng. Cụ thể, theo báo cáo của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, từ ngày 01 – 10 – 2006 đến 30 – 6 -2008, các cơ quan tố tụng trong cả nước đã khởi tố 714 vụ với 1.568 bị can về tội tham nhũng.

Ở một khía cạnh khác, việc tuyển chọn, bố trí quan lại, chức sắc thời xưa thì yếu tố thân quen hay gia đình trị thể hiện khá rõ. Ở trong làng, những dòng họ có người làm quan hay có thế lực thì dòng họ đó luôn được cất nhắc, kế nhiệm bằng sự thân quen hay tiền bạc. Chẳng hạn, vấn đề xin xỏ, chạy chọt trong giải quyết công việc cũng như bố trí nhân sự thì đã được nêu lên thành nguyên tắc từ xưa: “nhất thân, nhì quen, tam thần, tứ thế…”. Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ” mua quan bán tước đó vẫn có sự chi phối không nhỏ trong giai đoạn hiện nay. Như PGS. TS Nguyễn Đăng Dung nhận định: “Chuyện mua quan bán tước thời xưa nhiều khi được lệ làng cho phép, mặc dù trong thời hiện đại không được pháp luật quy định, song trên thực tế vẫn xảy ra”. Mặc dù xã hội hiện nay đã thay đổi nhưng những thói quen cũ đó vẫn bám rễ trong cách nghĩ, cách làm của rất nhiều người. Và nguy hiểm hơn là một số người mặc nhiên chấp nhận sự tồn tại của những tiêu cực đó, dù vẫn biết là vi phạm pháp luật.

Tâm thức của người Việt dù đi đâu, làm gì cũng đều hướng về quê hương, bản quán, vẫn luôn hướng về dòng họ. Một mục đích quan trọng của sự thành đạt là nhằm làm vẻ vang cho dòng họ của mình, để “vinh quy bái tổ”. Những điều đó kết hợp với tính tự trị trong các làng, xã đã nảy sinh nhiều tính cách không phù hợp với xã hội dân chủ hiện nay. Những tính cách đó đến nay vẫn hiện hữu ở một bộ phận không nhỏ nhân viên công quyền như tính gia trưởng, tôn ti, óc bè phái, cục bộ địa phương, thói háo danh, ham mê bổng lộc…

Truyền thống văn hóa chính trị của Việt Nam ảnh hưởng đậm nét của Nho giáo, cho nên quan lại, chức sắc chủ yếu hành xử theo lối “đức trị”, “nhân trị”. Vì vậy, nền quân chủ phong kiến đã “đạo đức hóa chính trị”, đề cao việc quản lý xã hội bằng cách nêu gương, cảm hóa, làm cho dân chúng an tâm và từ đó tạo nên sự ổn định xã hội. Tuy nhiên, đạo đức ở đây chính là “tam cương, ngũ thường”, là “tứ thư, ngũ kinh” là những chuẩn mực phù hợp với quan niệm, lợi ích của giai cấp phong kiến, nhằm củng cố vững quyền. Điều đó cũng có những ảnh hưởng tích cực, song nó lại có những mặt phiến diện, hạn chế, bảo thủ và cụ thể nhất là xóa nhòa vai trò của cá nhân, không tạo thói quen làm theo pháp luật. Vậy nên các nhân viên công quyền hiện nay thường chưa làm đúng chức trách, bổn phận theo quy định mà có thái độ dựa dẫm, ỉ lại khi gặp những vấn đề khó khăn thì thường chuyển cấp trên giải quyết hoặc đưa ra tập thể quyết định. Hậu quả là không có người chịu trách nhiệm trước pháp luật theo đúng chức trách, bổn phận.

Bên cạnh tư tưởng “đức trị” còn có tư tưởng “pháp trị”. Thực tế đã có những vị vua dùng pháp luật để cai tri đất nước, đã có những chính sách thiết thực, thưởng phạt phân minh nhằm đưa xã hội vận hành theo khuôn khổ của phép nước. Tuy nhiên, tư tưởng “pháp trị” thời phong kiến thường có tính chất phiến diện, thường được sử dụng để củng cố địa vị và quyền lực của giai cấp phong kiến. Chữ “pháp” trong cụm từ “pháp trị” chủ yếu có nghĩa là hình phạt. Trong các văn tự cổ của Trung Hoa, “pháp “hình” được dùng thay thế cho nhau. Theo sách “Thuyết văn giải tự” chép: “pháp tức là hình” “hình tức là pháp”. Điều đó cũng ảnh hưởng đến quan niệm của người Việt xưa, vậy nên họ coi pháp luật là hình phạt của nhà nước để cai trị xã hội. Vì vậy, nhiều bộ luật trong lịch sử phong kiến Việt Nam cũng chủ yếu theo nghĩa ấy, ví như Hình thư Quốc triều hình luật, Lê triều hình luật… Về cơ bản, các bộ luật đó đều nhằm củng cố trật tự xã hội phong kiến, nếu vi phạm phải bị trừng trị. Từ đó tạo thói quen cho quan lại coi pháp luật là công cụ để cai trị dân chúng. Điều đó vẫn còn ảnh hưởng trong giai đoạn hiện nay, đó là vẫn tồn tại tâm lý hám danh, “tham quyền, cố vị”, tự cao tự đại, độc đoán, chuyên quyền, xem thường dân chúng, dùng quyền uy để “trục lợi”…

2 . Lực cản từ truyền thống văn hóa đến ý thức công dân

Pháp luật hiện hành bên cạnh những quy định về nghĩa vụ thì cũng rất tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của công dân, của cá nhân. Trong khi đó , trong xã hội Việt Nam truyền thống thì chủ yếu đề cập đến nghĩa vụ và bổn phận của con người. Con người phải làm tròn rất nhiều bổn phận theo cương thường đạo lý là làm tôi, làm dân, làm con, làm vợ, làm dâu . . . Và còn vô số những mối quan hệ ràng buộc con người trong gia đình, đối với họ hàng, làng nước. .. Trong khi đó, ý thức về quyền công dân, về con người cá nhân không được đề cập tới. Vậy nên dẫn tới họ không thấy khả năng bảo vệ mình từ pháp luật nên cũng không quan tâm tới pháp luật.

Một vấn đề khác là do dân ta phải sống dưới ách áp bức của kẻ thù ngoại bang xâm lược quá lâu, nên đã hình thành ý thức chống dối, phản kháng ách cai trị. Người dân sống theo phong tục, tập quán của làng, xã để chống lại sự đồng hóa, để bảo tồn bản sắc, lối sống của người Việt. Họ hình thành nên phong tục, tập quán, lập nên hương ước của làng, cứ thế nó trở thành những quy tắc ứng xử của mọi người trong làng. Tính tự trị một cách tương đối giữa các làng và độc lập cả với trung ương là điều có thật. Nó diễn ra không chỉ trong giai đoạn có kẻ thù ngoại bang, mà cả trong thời bình. Mỗi làng là một “vương quốc” nhỏ với luật lệ riêng mà các làng gọi là hương ước. Chức sắc của làng có hội đồng kì mục (ớ miền Bắc và miền Trung do tiên chỉ và lý chỉ đứng đầu và ớ các thôn ấp miền Nam sau này gọi là hội tề do hương cả đứng đầu), họ đề ra lệ làng, hương ước; bên cạnh đó còn có lí dịch – những người thực thi lệ làng, hương ước. Lâu dần thành quen, từ đó hình thành nên truyền thống trong lệ làng hơn luật pháp, tạo nên tập tục “phép vua thua lệ làng”.

Tư tưởng “pháp trị” truyền thống coi pháp luật như là hình phạt để cai trị xã hội. Vậy nên dẫn đến người dân không muốn liên quan, liên lụy tới pháp luật. Quan niệm “nhất đáo tụng đình”, sợ đến nơi pháp đình… của Trung Hoa cũng ảnh hưởng đến Việt Nam. Tâm lý kiện tụng sẽ dễ gặp họa bởi quyền phán quyết đúng sai là trong tay quan lại, những người có quyền thế, có tiền bạc. Vậy nên “kiện sẽ gặp họa” đã trở thành lời răn được phổ biến rộng rãi, rằng “quan phủ nha môn lật án ra, có lý không phiền miền kêu ca”. Người dân vẫn coi nhà nước là ở trên mình, người dân phải phục tùng nhà nước, và pháp luật là để thực hiện điều đó. Người dân khi có va chạm, mâu thuẫn thì thường “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hòa vi quý” để tự giải quyết tranh chấp. Đó là giữa những người dân với nhau đã vậy, còn khi có mâu thuẫn hay bị thiệt hại mà liên quan đến người có chức sắc thì đành “ngậm bồ hòn làm ngọt” chứ không dám kiện quan lại, bởi quan lại là dại diện cho quyền lục ở địa phương. Vậy nên nhân dân đã đúc kết rằng người dân mà kiện quan lại thì như “con kiến mà kiện củ khoai” mà thôi. Vậy nên, trong giai đoạn hiện nay, vẫn còn một bộ phận dân chúng không muốn liên quan, liên lụy tới pháp luật.

Lối sống trọng nghĩa tình có nhiều mặt tốt, song lại cũng có mặt trái của nó là không xem xét đúng sai một cách rạch ròi, phân minh mà đề cao tình cảm dẫn đến xử lý các vấn đề một cách cảm tính, xem nhẹ cái lý, thiếu tôn trọng các nguyên tắc. Cho nên dân gian có câu: “một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”. Từ trọng tình hơn lý dẫn đến thói tùy tiện, hay như GS Trần Quốc Vương chỉ ra “thói vô kỷ luật” vốn là căn tính tiểu nông. Từ đó mà người dân không thích dùng luật vì cho rằng luật pháp là hệ thống những nguyên tắc cứng nhắc, chỉ thiên về lý. Và đó cũng là một lý do khiến người dân xưa đề cao lệ hơn luật, bởi luật chỉ thiên về lý, trong khi đó lệ là sự kết hợp cả những nguyên tắc về lý và tình của từng làng xã đã được mọi người mặc nhiên chấp nhận.

Như đã phân tích ở trên, nhiều đặc điểm trong văn hóa truyền thống của người Việt tạo nên thói quen hoặc không quan tâm, hoặc xem nhẹ, hoặc trốn tránh pháp luật. Thực tế đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực thi pháp luật trong giai đoạn hiện nay, khiến việc thực thi pháp luật trở nên phức tạp và chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Dưới đây là một vài trong số rất nhiều biểu hiện vi phạm pháp luật đang hiện hữu trong nhân dân.

Chẳng hạn, theo thống kê của Cục Thi hành án dân sự thì trong những năm qua, mỗi năm có khoảng 300.000 vụ án dân sự tồn đọng, chiếm khoảng gần 50% tổng số vụ việc (cụ thể: năm 2006 có 331.092 vụ việc tồn đọng, chiếm 54,99%; năm 2007 có 311.443 vụ việc tồn đọng, chiếm 48, 04%; năm 2008 có 313.428 vụ việc tồn đọng và năm 2009 là hơn 292. 000 vụ việc tồn đọng). Như vậy, có nghĩa là gần một nửa bản án dân sự dù được tuyên án và có hiệu lục pháp luật nhưng nó vẫn không xác lập được sự công bằng thực sự trong xã hội. Nhiều cá nhân, tổ chức được tòa án xác định phần thắng trong tranh chấp dân sự, nhưng sau nhiều năm họ vẫn không đòi được quyền lợi hợp pháp của mình do sự bất lực của cơ quan thi hành án, do sự chống đối của người thua kiện. Đó là biểu hiện rõ nhất cho thấy luật pháp đến nay vẫn chưa thật sự được tôn trọng.

Hay như thói tùy tiện, “vô kỷ luật”, thiếu ý thức được thể hiện rất rõ khi “một bộ phận” không nhỏ người dân thản nhiên coi nơi công cộng là “thùng rác”, dù nhiều người vẫn biết hành vi của mình bị luật pháp nghiêm cấm. Đúng hơn, họ biết nhưng không sợ, bởi bao nhiêu năm vứt rác bừa bãi, họ đâu đã có lần nào bị phạt, nên thấy tiện thì làm. Nhiều người còn viện dẫn câu nói lưu truyền trong dân gian để bào chữa cho hành vi không cần biết, không cần làm theo pháp luật của mình: “không biết là không có tội”….

3. Một số giải pháp khắc phục những rảo cản hình thức nhằm xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật

Trong giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chúng ta không thể hành xử theo lối “đóng cửa bảo nhau”, “một bồ cái lý không bằng một tý cái tình” hay “phép vua thua lệ làng”. . . được nữa, mà cần phải tăng cường hoá vai trò của pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống. Chúng ta phải nâng cao hiệu quả của pháp luật mới có thể lập nên trật tự, kỷ cương xã hội, để tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới thành công, để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để đạt mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Để làm được điều đó, chúng ta không chỉ quan tâm tới pháp luật, mà còn phải quan tâm tới cả văn hóa, bởi pháp luật và văn hóa đã và đang điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Văn hóa sẽ góp phần quan trọng vào nhận thức của mọi người trong việc thực hiện hay cản trở pháp luật, mặt khác pháp luật góp phần ngăn chặn, đẩy lùi cái xấu, cái ác và khuyến khích, nâng đỡ cái tốt, cái thiện trong mỗi con người, tức là nuôi dưỡng và phát triển văn hóa. Nói cách khác, pháp luật tham gia điều chỉnh quan hệ xã hội bằng những quy phạm, điều khoản quy định các hành vi được phép và hành vi bị cấm đoán, bằng sự bắt buộc, cưỡng chế từ bên ngoài. Còn văn hóa, điều chỉnh các mối quan hệ bằng dư luận xã hội, bằng sự nhận thức, giác ngộ và sự thôi thúc từ bên trong. Đây là sự bổ sung và hỗ trợ cho nhau nhằm xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật.

Về khía cạnh văn hóa, thì cũng đúng với chủ trương Đảng ta đã đề ra, đó là giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Để xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật ở Việt Nam, chúng ta phải thực hiện “xây” đi đôi với “chống”. Chúng ta phải tiếp thu và bổ sung các yếu tố, giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại về vấn đề này như ý thức tôn trọng pháp luật, thói quen sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật; sự phân minh, rạch ròi giữa lý và tình; tính công khai, minh bạch, ý thức và trách nhiệm mẫn cán của đội ngũ công chức nhà nước... Chúng ta phải phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới. Bên cạnh đó, phải phê phán và kiên quyết loại bỏ những thói hư, tật xấu, tập quán lạc hậu cản trở đến quá trình xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật. Đó là tính tự do tùy tiện, lối ứng xử theo kiểu “phép vua thua lệ làng” tư tưởng cục bộ, địa phương, ý thức coi thường pháp luật, thói ỷ lại, tác phong làm việc tự do, vô kỷ luật...

Ở một khía cạnh khác, nhà nước phải tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp quan trọng nhằm xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật như sau :

Một là, giúp cho nhân dân nhận thức rõ về vai trò, ý nghĩa của pháp luật. Tức là phải xóa bỏ thói quen xem nhẹ hoặc chống đối pháp luật của nhân dân để thay bằng thói quen chủ động tìm hiểu và làm theo pháp luật. Để làm được điều này, cần thay đổi cách nhìn của nhân dân về pháp luật, tức phải làm cho dân hiểu rằng, pháp luật là công cụ bảo vệ công lý, là công cụ bảo vệ mình. Pháp luật không loại trừ một ai và không phân biệt đối xử với bất kỳ ai dù là người có quyền chức hay thường dân. Đứng trước pháp luật thì mọi công dân đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau. Luật pháp cần đạt tới tiêu chí khách quan, công bằng và nhân đạo, như Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời dã từng căn dặn: pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người .

Hai là, phải xây dựng hệ thống pháp luật của Nhà nước hoàn chỉnh, đồng bộ, công bằng và khả thi. Hệ thống pháp luật đó phải có vai trò bảo vệ các giá trị chân chính, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người, đồng thời, tạo điều kiện cho con người phát huy những năng lực thực tiễn của mình. Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh phải thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù hợp với xu thế vận động, phát triển của lịch sử, đảm bảo trên thực tế các quyền thiêng liêng của con người, tôn trọng các giá trị xã hội… Có như vậy, mọi người mới tin tưởng mà làm theo luật pháp.

Khi đã xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, cần có cách thức tổ chức đưa luật vào cuộc sống. Để đưa luật vào cuộc sống, trước tiên phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân. Khi phổ biến luật, chúng ta phải chú ý cả luật công và luật tư. Bởi lâu nay chúng ta thường chú ý đến phổ biến luật công mà ít chú ý đến luật tư. Lâu nay ta vẫn nghĩ, cứ làm luật là dân theo, thực tế không phải như vậy. Cho dù đã có luật nhưng thực tế sự chấp hành pháp luật của người dân chưa được cải thiện là bao, vậy nên chúng ta phải quan tâm làm sao để đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong cán bộ, công chức và mọi tầng lớp nhân dân.

Ba là, có biện pháp phù hợp yêu cầu các nhân viên công quyền nghiêm túc thực thi theo pháp luật. Để làm được điều này, chúng ta vừa phải biểu dương sự tu dưỡng đạo đức, vừa phải tạo áp lực buộc các nhân viên công quyền phải tuân thủ pháp luật khi thực thi quyền lực. Chẳng hạn như vấn nạn tham nhũng, thực tiễn cho thấy, tham nhũng gắn liền với quyền lực của nhà nước, song mức độ của nó lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm phòng chống của từng chính phủ. Nếu chính phủ nào quan tâm phòng, chống một cách tích cực và triệt để thì hạn chế được nó, ngược lại thì tệ nạn này sẽ phát triển khôn lường. Chúng ta có thể dùng dư luận xã hội, thông tin và truyền thông để lên án các hiện tượng tiêu cực trong đời sống công quyền như nạn mua quan bán tước, nạn tham nhũng, nạn phong bì, tính cục bộ địa phương, thói hách dịch, cửa quyền… Mặt khác, ta cũng phải hoàn thiện cơ chế giám sát quyền lực, trong đó có cơ chế giám sát lẫn nhau để tránh lạm quyền, đặc quyền, đặc lợi...

Để làm được những điều nêu trên, đòi hỏi sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, nhất là các ngành tư pháp, văn hóa, thông tin, các cấp chính quyền… Mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu tiên phong trong việc thực hiện pháp luật, trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến quần chúng nhân dân. Cần tạo ra môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh từ mỗi gia đình, mỗi cộng đồng dân cư nhằm xây dựng nếp sống tôn trọng pháp luật cho tất cả mọi người. Có như vậy, chúng ta mới xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương, văn minh, tiến bộ vì con người và cho con người như mong muốn của Đảng và Nhà nước ta.

Vũ Đình Anh – Sinh hoạt lý luận, số 2/2011, 48
Share