Nỗi đau của Hà Nội

Việt Nam đối mặt với những bất an chính trị trong khi những tai ương kinh tế trở nên tồi tệ hơn

Những bất đồng bên trong Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam đã lan rộng giữa cơn hồi tỉnh trước thời kỳ suy thoái kinh tế vẫn tiếp tục trên quốc gia này, đe doạ sự ổn định chính trị trong dài hạn của đất nước.

Vào tuần qua, Ban chấp hành Trung ương đóng vai trò chủ chốt trong đảng đã tổ chức một cuộc họp khẩn cấp trong một nỗ lực nhằm củng cố cuộc chiến chống lại tình trạng lạm phát đang bùng phát dữ dội, tình trạng náo động trong lực lượng lao động vẫn tiếp tục và một mức thâm hụt thương mại đang lan rộng.

Không có gì bí ẩn rằng những quan điểm đối lập về căn nguyên của tình trạng kinh tế chông chênh của Việt Nam, và về cách thức tốt nhất để khắc phục nó, đã loang rộng khắp các cấp của đảng từ các nhà lãnh đạo cao nhất trong Bộ Chính trị xuống tới các cấp cơ sở ở các tỉnh thành. Bản thân các nhà lãnh đạo đảng vẫn mâu thuẫn với nhau giữa những người tiếp tục ủng hộ các chính sách bành trướng phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và một nhóm mở rộng quanh Tổng bí thư Đảng Nông Đức Mạnh là người ủng hộ việc củng cố và làm chậm hơn mức tăng trưởng với khả năng chịu đựng được hơn.

Quyện chặt bên trong với những khác biệt trong hệ tư tưởng kinh tế là những lời phàn nàn cá nhân đã tồn tại từ lâu về những quyết địng thăng chức gấp gáp của ông Dũng đối với những nhà kỹ trị và những nhân vật đồng hương miền nam để loại trừ các nhân vật cấp cao khác, đáng chú ý là từ miền trung của nước này. Pha trộn những rạn nứt là trận chiến chống tham nhũng lờ mờ không rõ, được lãnh đạo với tư cách cá nhân của Thủ tướng, cũng như những hành động đàn áp các nhà báo và các thành viên Giáo hội Thiên chúa trong thời gian gần đây.

Những người trong cuộc của đảng và các nguồn tin ngoại giao cho biết có sự suy đoán ngày càng tăng rằng nếu như những chia rẽ trở nên khốc liệt, chúng có thể đẩy nhanh một cơn khủng hoảng trong ban lãnh đạo vào một tương lai gần.

Phiên họp toàn thể tại Hà Nội từ tuần trước, một hiện tượng chưa có tiền lệ khi có cuộc họp lần thứ ba trong một năm, với toàn bộ 160 ủy viên ban chấp hành trung ương đảng, được vội vã kêu gọi cố gắng ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám trong chính quyền và tập trung tâm trí vào cơn khủng hoảng kinh tế đã bắt đầu đe doạ sự ổn định chính trị và quyền kiểm soát của đảng.

Theo truyền thống, đảng chỉ tổ chức hai cuộc họp ban chấp hành trung ương hàng năm, thế nhưng tiếp theo sau phiên họp toàn thể đầu tiên của năm nay được tổ chức vào tháng Giêng, một phiên họp thứ hai đã được triệu tập vội vã vào tháng Bảy nhằm cố gắng quyết định những công việc phải làm trước tình trạng sụp đổ kinh tế. Giờ là một phiên họp thứ ba được tổ chức vào tháng Mười.

Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia về Việt Nam của Học viện Quốc phòng Australia nhận xét: “Cuộc họp toàn thể lần thứ ba báo hiệu rằng có những điều gì đó rất quan trọng đang được bàn cãi.”

Một cách chính thức, cuộc thảo luận kín ba ngày đã tập trung hầu hết thời gian vào những vấn đề kinh tế xã hội và cụ thể là làm cách nào để tránh cho nền kinh tế đã bị suy yếu khỏi tình trạng sa lầy hơn nữa như là một hệ quả của sự rối loạn tài chính tại Hoa Kỳ.

Ông Nguyễn Trần Bạt, chủ tịch Investconsult Group, một trong những công ty tư vấn thương mại lớn nhất Việt Nam, đã nhận xét: “Cuộc họp toàn thể này là rất quan trọng bởi vì nó tập trung vào việc làm thế nào để giải quyết tình trạng lạm phát và phải phản ứng ra sao đối với sự suy sụp tại thị trường Hoa Kỳ.”

Song không có gì mới mẻ ở đây, tại cả hai cuộc họp toàn thể lần trước trong năm nay, các nhà lãnh đạo đảng về cơ bản đã thảo luận những chủ đề hoàn toàn giống nhau, mỗi lần với cảnh báo và sự lo lắng được nâng lên thêm – và với tình trạng nói xấu sau lưng ngày càng tăng trong số họ về việc ai đang đưa ra, hay không đưa ra được hướng đi đúng đắn cho mọi hành động.

Tại cuộc họp cuối cùng, các ủy viên Ban chấp hành Trung ương, những người đang mất đi sự kiên nhẫn với chính phủ khi mà mức độ lạm phát đã vọt lên gần tới 30%, đã nêu lên trách nhiệm của Bộ chính trị đối với việc giám sát tình hình kinh tế cho tới hết năm nay. 14 ủy viên Bộ chính trị là thành phần cao nhất của đảng. Và quyết định này nhằm lấy đi quyền kiểm soát từ chính phủ của ông Dũng là một động thái cao độ báo hiệu điềm dữ, thực sự đánh lạc hướng chính phủ và thê đội kinh tế của Thủ tướng.

Có rất ít những gì cho ông Dũng và các quân sư của mình có thể làm quanh vấn đề này kể từ khi họ chỉ còn lại một nhóm thiểu số trong Bộ chính trị, nơi mà những người ủng hộ ông trùm của đảng Nông Đức Mạnh với lời cảnh báo và đòi hỏi tính thống nhất hơn nữa đang chiếm ưu thế.

Cuộc họp tháng Bảy không hoàn toàn là một tín hiệu từ sự thiếu vắng niềm tin vào vị Thủ tướng còn khá mới mẻ, song nó là một dấu hiệu cho thấy nhiều ủy viên Ban chấp hành Trung ương vẫn hoài nghi rằng ông là một người phù hợp để điều hành đất nước trong những thời điểm rối loạn như hiện nay. Và thực tế cho tới lúc này họ đã yêu cầu một cuộc họp vào tuần trước để giải quyết cơn khủng hoảng, cho thấy rõ ràng họ vẫn không tin chắc [vào vị Thủ tướng].

Thực vậy, đúng một ngày trước khi phiên họp toàn thể được triệu tập, Thủ tướng Dũng đã lặp lại tín hiệu báo động thông thường của mình về việc làm cách nào các bộ và các tổ chức tài chính phải đưa ra những ưu tiên cho việc kiểm soát lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh xã hội và duy trì mức tăng trưởng thích hợp.

Những ngôn từ của ông chỉ gây sự chú ý chút ít, song ông tiếp tục thúc đẩy cho một tỉ lệ tăng trưởng mạnh mẽ trong khoảng 7% năm, là mức mà nhiều người cảm thấy không thể đạt được.

Thế nhưng ít nhất thì nó cũng thực tế hơn cái mục tiêu ban đầu 9% của chính phủ ông. Ngân hàng Phát triển Á châu và các thể chế khác giờ đây đang dự báo một con số vào khoảng 5%.

Và tại cuộc họp toàn thể vào tuần trước, đảng đã che đậy một cách khôn ngoan dự báo của mình trong những lời lẽ hết sức chung chung, cho rằng “tăng trưởng sẽ phải được giữ ở một mức thích hợp và có thể chịu đựng được.” Không còn nữa cho một tương lai có thể dự đoán được là mức tăng trưởng 8% mà Việt Nam đã đảm bảo trong cả thập kỷ qua.

Ông Dũng cũng đã chỉ thị cho các bộ và cơ quan, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phải tập trung chú ý vào những dao động trên thị trường tài chính toàn cầu và của Hoa Kỳ để Việt Nam có thể đưa ra các giải pháp bổ cứu nhằm đảm bảo khả năng đứng vững được cho hệ thống ngân hàng của đất nước. Theo ông Dũng, người mà trong một thời gian ngắn – và khá là không may – từng tự mình là người lãnh đạo ngân hàng trung ương, thì cơn khủng hoảng tài chính của Hoa Kỳ cho tới lúc này không có một tác động đáng kể nào tới nền kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, trong khi ông báo trước rằng Việt Nam vẫn phải để phòng, thì những ngôn từ của ông vẫn được nhận ra có vẻ phần nào quá là tự mãn. Những tiếng kêu trong cộng đồng doanh nghiệp gợi lên một cảm giác quá mạnh mẽ rằng sự suy sụp của Hoa Kỳ sẽ tác động nguy hiểm tới nền kinh tế đang tắt lịm dần của Việt Nam.

Ông Nguyễn Trần Bạt nhận xét: “Rõ ràng sự suy sụp của Hoa Kỳ sẽ tác động lên những mục tiêu xã hội và kinh tế của đảng và có thể là cần thiết để điều chỉnh các chỉ tiêu phấn đấu dài hạn của chúng ta.”

Thị trường Hoa Kỳ có ý nghĩa sống còn đối với nhiều nhà xuất khẩu của Việt Nam, đáng chú ý là các doanh nghiệp dệt may, thủy sản, giày dép, đồ gia dụng và nhiều thứ hàng hóa thấp cấp. Và chính là ông Mạnh, hơn là ông Dũng, đã nhấn mạnh tới sự cần thiết cho một hành động cấp bách mới và mạnh mẽ hơn để thúc đẩy xuất khẩu trong khi đồng thời kiểm soát nhập khẩu nhằm cố gắng giảm mức thâm hụt thương mại đang lớn dần.

Hơn nữa, lượng tiền gửi về nước từ những người Việt cứng đầu định cư ở Hoa Kỳ, Âu châu và Úc (gọi là Việt Kiều) sẽ giảm. Và chắc chắn nhiều hứa hẹn đầu tư của Hòa Kỳ sẽ ít trở thành hiện thực hơn.

Thái độ lạc quan thận trọng của ông Dũng trái ngược với những nhận xét mở đầu cuộc họp toàn thể trong ngày tiếp đó của ông trùm đảng Nông Đức Mạnh. Cách diễn đạt của họ có thể là lịch sự và bề ngoài của những khẩu hiệu là không quá giống nhau, nhưng bên dưới là sự tương phản hoàn toàn.

Ông Mạnh lưu ý rằng mặc dù có những hứa hẹn về mức gia tăng xuất khẩu và đầu tư, song vẫn có những thâm hụt và nhược điểm lớn, bao gồm lạm phát dâng cao, một trái bóng thâm hụt thương mại lớn dần và tình trạng rối loạn trong giới lao động vẫn tiếp diễn. Nói cách khác, quần chúng nhân dân vẫn lo lắng và bất bình – và điều đó có thể dẫn tới những vấn đề lớn đối với đảng nếu như nó không sớm có những lựa chọn giải pháp. Ông đã đề nghị Ban chấp hành Trung ương tìm ra những nguyên nhân và có biện pháp đối phó.

Thực tế một khi mà ông trùm của đảng cần phải lặp lại – một năm sau cơn khủng hoảng giáng xuống Việt Nam lần đầu tiên – rằng họ vẫn có nhu cầu xác định rõ những nguyên nhân, chưa kể đến những giải pháp, thì thực tế đó là điều đáng lo ngại.

Trong năm qua, những gì đã xảy ra ngày càng tồi tệ hơn đối với nền kinh tế được điều khiển bởi xuất khẩu, và giờ đây, với thị trường xuất khẩu lớn nhất của mình đang nghiêng theo hướng suy thoái, mọi thứ có vẻ như rơi vào tình trạng thậm chí ảm đạm hơn, đặc biệt đối với những người dân có thu nhập thấp và tầng lớp trung lưu là những người phải đối mặt với những biến đổi mới trong giá cả tiêu dùng thiết yếu.

Vào tuần trước, Thứ trưởng Bộ Công thương Bùi Xuân Khu đã cho biết rằng Việt Nam sẽ bắt đầu nâng giá bán điện là thứ vẫn được chính phủ kiểm soát lên 20% vào năm tới trong một trình tự nhằm thu hút hơn nữa đầu tư vào khu vực năng lượng quốc gia vốn không tương xứng và kém hiệu quả một cách đáng buồn. “Mới đây, chúng ta đã phải duy trì mức giá bán lẻ thấp với mục tiêu kìm chế lạm phát, thế nhưng giá sẽ tăng lên bắt đầu vào năm 2009.”

Những động thái đó có khả năng sẽ làm trầm trọng thêm sự bất mãn trong quần chúng và tình trạng náo động trong giới công nhân, đồng thời kích động thêm những chia rẽ bên trong đảng về bản chất đáng khen ngợi của những hành động đó. Đảng cũng đã chính thức thừa nhận rằng thời hạn sớm nhất có thể cho một sự trở lại mức lạm phát một con số sẽ không xảy ra trước năm 2010.

Cũng như cuộc chiến đấu chống lại những vấn đề gai góc này, cuộc họp toàn thể vào tuần trước cũng đã thảo luận về kỳ họp tới của Quốc hội sẽ được triệu tập sớm tại Hà Nội.

Các nhà lãnh đạo đảng biết rằng họ phải cố gắng đưa ra công thức cho những chính sách kinh tế nhằm đạt được những mong đợi của các đại biểu quốc hội và vì thế phải hành động chặn trước những chỉ trích gây nhức nhối mà họ cũng đã nhận được vào tháng Một khi tình trạng lạm phát, vào khoảng 14%, chỉ mới bắt đầu tác động, và mức thâm hụt mậu dịch cùng những náo động trong công nhân đã có vẻ xảy ra khá thường xuyên.

Tình hình đó không giống như hiện nay, và, một thực tế là vào tháng Một, các nhà lập pháp thuộc các địa phương của Việt Nam đã có vẻ nổi lên một cách đặc biệt trong việc đánh giá chính phủ khi họ kiểm điểm lại tình trạng nhức nhối về tài chính gây ra bởi lạm phát ảnh hưởng tới các cử tri là nông dân của mình.

Liệu phiên họp toàn thể “kêu gọi thức tỉnh” vào tuần trước có khích lệ được các nhà lãnh đạo của đảng để có nhiều hành động hơn nữa – và cố kết với nhau hơn nữa – hay không, vẫn còn phải được xem xét. Nếu như không, thì có khả năng sẽ còn có phiên họp toàn thể khác, hoặc có thể thậm chí một Đại hội giữa kỳ, mà trong đó, các nhà lãnh đạo cấp cao hơn, bao gồm ông Dũng và ông Mạnh, có thể tự nhận thấy khả năng của mình để dời chuyển vị trí hoặc thậm chí là ra đi.

Giống như ông Mạnh đã cảnh báo trong bài diễn văn cuối cuộc họp toàn thể: “Điều đặc biệt quan trọng là phải giành được sự đồng lòng nhất trí trong đảng, trong nhân dân, quân đội và tất cả các cấp các ngành.”

Không phải chỉ là mối lo sợ của đảng về những rạn nứt bên trong, mà còn có sự đề phòng về bất cứ rối loạn xã hội hoặc lực lượng chính trị đối lập nào. Vì lý do đó mới có hành động đàn áp thẳng tay gần đây đối với các nhà báo và các tín đồ Thiên chúa giáo. Một số nhà báo nổi tiếng đã bị bắt giam trong những tháng qua, và hai trong số các nhà báo tham gia chiến dịch chống tham nhũng ở nước này sắp sửa bị đem ra xử án do đã phơi bày những hành động phi pháp trong số những nhân vật lãnh đạo đảng trong vụ bê bối PMU18 khét tiếng hai năm trước.

Các thành viên của giáo hội Thiên chúa, kể cả tổng giám mục Hà Nội, cũng đã bị cảnh báo phải chấm dứt hành động phản kháng đối với việc sung công các bất động sản của họ từ hậu quả của Cuộc chiến tranh Việt Nam. Gọi những hành động phản kháng gần đây là “hoàn toàn không thể chấp nhận được,” Thủ tướng Dũng đã nói: “Nếu những hành động này không đi đến chấm dứt, nó sẽ có một tác động có hại cho khối đoàn kết tốt đẹp giữa nhà nước và nhà thờ.”

Mới đây Thủ tướng đã gặp một số vị giám mục, song vấn đề đất đai đã không được giải quyết và vẫn còn lại một chướng ngại chủ yếu trong việc khôi phục các mối quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội và Vatican.

Các quan chức đảng tại địa phương, đặc biệt cùng ken vai với các nhân vật kỳ cựu như ông Mạnh, người đứng đầu ban Bí thư đảng Trương Tấn Sang và Bộ trưởng Công An Lê Hồng Anh, được biết đến như đang tỏ ra sốt ruột mà thiếu kiềm chế khi đưa thêm những hành động kém tế nhị. Họ tin rằng Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây khác đang quá quẫn trí bởi cơn rối loạn toàn cầu hiện thời và các cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ nên khó có thể giành nhiều chú ý tới hành động đàn áp thẳng tay đối với tôn giáo và giới truyền thông Việt Nam.

Còn những người khác, chủ yếu trong thành phần ôn hòa hơn của Thủ tướng, thì biện luận rằng phương cách hành động tốt nhất cho cả hai bên là hãy bình tĩnh lại.

Như lời ông Nguyễn Trần Bạt thì “Mặc dù giới chức địa phương rõ ràng không thể trả lại đất cho Giáo hội Thiên chúa bởi vì hiện tại không có khung pháp lý để quyết định như vậy, song tôi vẫn thiên về việc chấp nhận một thái độ ôn hòa để giải quyết cuộc tranh chấp.”

Giáo sư Thayer bình luận thêm: “Một biện pháp không khoan nhượng chống lại Giáo hội Thiên chúa không bao giờ là một ý tưởng khôn ngoan và ở giữa một cơn khủng hoảng kinh tế như hiện tại thì nó thậm chí còn là một ý đồ tệ hại hơn. Dù sao thì những nhân vật bảo thủ cũng sẽ nói lên mối quan ngại của họ về sự ổn định chính trị.”

Quả thực, biện pháp khẩn cấp trong lĩnh vực truyền thông cũng như hành động chống lại giáo dân Thiên chúa cũng là những chủ đề đã được bàn thảo trong hội nghị toàn thể vào tuần trước, bởi, giống như tình trạng suy sụp kinh tế, chúng đụng chạm tới nỗi ám ảnh đối với sự ổn định chính trị của đảng và sự tiếp tục hệ thống cai trị độc đảng.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ở Hà Nội cho rằng: “Những người cộng sản luôn luôn dùng nỗi lo sợ tình trạng bất ổn như là một cái cớ để không thực biện dân chủ hóa và họ sẽ tiếp tục làm như vậy.”

Các nhà lãnh đạo đảng coi sự ổn định chính trị của Việt Nam như là nền tảng cho sức hấp dẫn của mình đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt khi mà sự bất ổn tiếp tục quấy rầy các nước đối thủ trong khu vực như Malaysia, Thái Lan và Philippines.

Vào đầu mùa hè này, ông Michael Pease, chủ tịch Phòng thương mại Mỹ và là Tổng giám đốc của hãng Ford tại Việt Nam đã nhận xét: “Thành công của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài phần lớn được tạo dựng nên dựa vào sự trông đợi ở tình trạng ổn định kinh tế và chính trị.”

Một báo cáo từ đầu năm nay được thực hiện bởi hãng Business Monitor International Ltd, liệt kê các quốc gia châu Á Thái Bình Dương theo mức rủi ro chính trị, đã đánh giá Việt Nam xếp thứ hai ngang với Hong Kong, sau Singapore, về mức ổn định chính trị trong ngắn hạn.

Cố nhiên, các nhà lãnh đạo đảng, cả số ù lì lẫn những người có quan điểm cấp tiến, đều ưa thích những loại báo cáo đó và tìm cách đảm bảo rằng tình trạng rối loạn kinh tế hiện thời, và các vấn đề tôn giáo và truyền thông, sẽ không gây phiền toái cho sự đánh giá đầy khích lệ đó – thứ mà một số người lo ngại rằng nó đã bắt đầu tạo nên không khí thỏa mãn.

Ông Vũ Mão, thành viên kỳ cựu của đảng và là một cựu chủ nhiệm ủy ban đối ngoại của Quốc hội đã nói: “Tôi đã có những cảm giác lẫn lộn khi nghe là sự ổn định chính trị ngắn hạn của Việt Nam được đánh giá quá cao. Mức đánh giá đó theo quan điểm của tôi là quá mức và không tính đến nhiều vấn đề nhức nhối của Việt Nam về quyền sử dụng đất, tình trạng nghèo đói ở nông thôn và chất lượng cuộc sống của các công nhân thu nhập thấp.”

Bổ sung thêm bằng những nhận xét của ông Thayer thì: “Chắc chắn có những thái độ không hài lòng ngày càng gia tăng trong số những cư dân nơi đô thị về tình trạng giá cả tăng cao, ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông và tham nhũng.”

Quả thực, khi đi tới đánh giá về những rủi ro chính trị dài hạn, thì Việt Nam không được ổn trong bản báo cáo và bị xếp gần cuối bảng, chỉ mấp mé phía trên các nước như Lào và Myanma.

Đương nhiên, ngay cả sự phân tích những nhân tố bên trong cuộc đấu tranh nội bộ từ hàng ngũ chóp bu của đảng hiện nay, có ít người tin rằng chế độ cộng sản tại Việt Nam sẽ sụp đổ bởi thái độ vô cùng tức giận trước tình hình kinh tế và những hành động của những người bất đồng chính kiến hăng hái, các nhà báo và các vị giáo sĩ.

Thế nhưng không nghi ngờ gì nữa, ban lãnh đạo hiện thời của nước này đang phải chịu áp lực và đã không tổ chức được cuộc họp trong cơn khủng hoảng vào tuần trước trong một tình trạng khác. Những chia rẽ cuối cùng của cuộc họp đó hiện vẫn bộc lộ.

Bài của Roger Mitton

Nguồn: Asia Sentinel

Xem bản tiếng Anh

Thứ Ba, ngày 7-10-2008

Share