Sửa hiến pháp để có tư pháp độc lập

Phần âm thanh – Hiến Pháp Việt Nam hiện hành có thể được Quốc Hội xem xét việc tu chính trong nghị trình năm 2011.

“Chuẩn bị dự thảo Nghị quyết sửa đổi bổ sung một số điều của bản Hiến Pháp 1992” là yêu cầu mới được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị bổ sung vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2011 trình Quốc hội sáng 2/6 vừa qua.

Vietnamnet trích lời ông Nguyễn Văn Thuận Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội nói rằng, việc sửa đổi hiến pháp năm 1992 sẽ được thực hiện sau khi có chủ trương của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phần mình cũng đề xuất việc sửa đổi bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước để đáp ứng yêu cầu đổi mới. Theo đó có những định hướng quan trọng liên quan trực tiếp đến các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước đồng thời cũng liên quan đến các qui định tương ứng của hiến pháp.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật nhấn mạnh tới các vấn đề cụ thể như, định hướng cải cách tư pháp lấy tòa án làm trọng tâm, tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chánh; nghiên cứu chuyển viện Kiểm sát thành viện Công tố. Thêm thẩm quyền cho thủ tướng theo đó người đứng đầu chính phủ có quyền điều động, bổ nhiệm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp trên điều động, bổ nhiệm Chủ Tịch ủy Ban Nhân Dân cấp dưới trực tiếp. Ngoài ra còn định hướng tiến tới không tổ chức Hội đồng Nhân dân ở quận huyện phường mà trước mắt thực hiện ở một số địa phương làm thí điểm.

Luật sư Bùi Quang Nghiêm, Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM nhận định về đề xuất liên quan tới cải cách tư pháp:

“Nội dung cụ thể là tổ chức tòa án theo khu vực chứ không phải theo địa hạt đơn vị hành chính nữa. Thế nhưng vì Hiến Pháp nên mọi người cho rằng phải thay đổi Hiến Pháp mới thực hiện được. Nội dung này không phải là mới nhưng phải thay đổi Hiến Pháp mới làm được, cá nhân tôi rất ủng hộ nội dung này, có như thế mới bảo đảm tốt hơn tính độc lập của thẩm phán.

Được yêu cầu nhận định về định hướng cải cách tư pháp như vừa nêu, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội, một luật gia được nhiều người biết tiếng phát biểu:

“Quốc hội bắt buộc phải đánh giá lại cho đúng vai trò của tòa án, từ chỗ người dân có thể trực tiếp khởi kiện không cần qua khâu khiếu nại cơ quan chính quyền đã gây thiệt hại cho mình, dẫn tới chuyện là phải tăng cường quyền lực cho tòa án, tòa án không phụ thuộc chính quyền nữa, tổ chức theo dây dọc của tòa án chứ không tổ chức theo các cấp chính quyền như hiện nay tòa án huyện, tòa án tỉnh rồi trên có tòa án trung ương.

Mọi người đều thấy rõ, tòa án là cấp dưới của chính quyền thì khi chính quyền làm sai tòa án làm sao xử chính quyền được. Đấy là điều mâu thuẫn không thể giải quyết được, thành ra hướng cải cách tư pháp tòa án độc lập với chính quyền sẽ giải quyết những oan sai mà chính quyền đã gây ra với người dân một cách tích cực hơn.”

Giấc mơ tam quyền phân lập

Luật sư Cù Huy Hà Vũ

Luật sư Cù Huy Hà Vũ

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ giải thích thêm về vai trò yếu kém và chịu nhiều lệ thuộc của hệ thống tư pháp hiện hành. Ông nói:

“Tại sao hệ thống tòa án ở Việt Nam lại sợ chính quyền đến thế? Ngoài hệ thống chính quyền thì cuối cùng ở huyện có huyện ủy, tỉnh có tỉnh ủy, thành phố có thành ủy. Thành ra tòa án rồi Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân tất tật đều dưới sự lãnh đạo của Đảng cả, tòa án không được mở phiên tòa xét xử Ủy ban Nhân dân, cuối cùng chỉ còn người dân chịu thiệt thậm chí đến chết mà cũng không bao giờ được biết vụ việc của mình được xử lý ra sao.”

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bày tỏ sự mong muốn việc cải cách tư pháp theo hướng thoát khỏi sự lệ thuộc hệ thống chính quyền huyện tỉnh thành phố như hiện nay, dần dần sẽ tiến tới tòa án xét xử độc lập, dù phía chính quyền có những chức danh ủy viên trung ương hay ủy viên bộ chính trị, tòa án vẫn phải căn cứ theo luật pháp mà thực hiện. Ông Cù Huy Hà Vũ tiếp lời:

“Tất nhiên đấy là hy vọng, theo tôi vô cùng khó nếu không muốn nói là không thể giải quyết được. Bởi vì một đảng lãnh đạo nó sẽ xóa nhòa hết ranh giới độc lập giữa ba quyền hành pháp, tư pháp và lập pháp.

Tuy nhiên khi đưa ra khái niệm đó nó cũng là một sự động viên mạnh mẽ đối với thẩm phán nào còn có lương tri, trong lãnh vực nhất định họ có thể sẵn sàng đánh đổi sự mất chức để làm được những điều đúng với lương tâm mình và cũng là động viên đối với người dân để người ta thấy rằng, Nhà nước đã cho phép người dân kiện trực tiếp mà không phải thông qua cơ quan hành chính đã làm hại mình nữa.

Có thể nói nó tạo ra hiệu ứng theo tôi là tích cực trên con đường cải cách triệt để tức là ba quyền hoàn toàn phải độc lập với nhau. Và tất nhiên trong trường hợp đó chỉ có thể có dưới một chế độ đa đảng chứ không bao giờ dưới chế độ chỉ có một đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.”

Hoài vọng Hiến pháp 1946

Khi đưa tin đề xuất sửa bản Hiến pháp hiện hành tức Hiến pháp được ban hành năm 1992, Vietnamnet đã để đường dẫn cho người đọc tham khảo bài viết “Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền”của TS Nguyễn Sĩ Dũng trên báo Pháp Luật TPHCM Online được TuầnVietnam.net đăng lại. Thực hiện việc này, trang mạng chuyên mục cho rằng để mọi người cùng suy gẫm về một bản hiến pháp đã ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ.

Tác giả Nguyễn Sĩ Dũng mô tả Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Trong đó có những điều chỉ vỏn vẹn một dòng. Ví dụ điều 12 được viết: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Một trong những lý do giải thích sự ngắn gọn này là: Hiến pháp 1946 đã được thiết kế theo tư tưởng pháp quyền.

Vẫn theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, nếu pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ thì Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó. Theo sự nhận định của tác giả, để lạm quyền không thể xảy ra thì hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Đặc biệt điều 70 Hiến pháp 1946 minh thị mọi sự sửa đổi bổ sung bản Hiến pháp đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết.

Vẫn theo tác giả, các quyền của người dân được Hiến pháp 1946 ghi nhận và bảo đảm. Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì cao hơn là nhà nước làm việc này. Vì rằng nếu nhà nước ghi nhận và bảo đảm thì quyền chủ động là thuộc nhà nước, nhưng nếu hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì nhà nước không có quyền chủ động ở đây.

Trong bản Hiến pháp 1946, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, vấn đề này đạt được nhờ hai điều 63 và 69 Hiến pháp 1946. Theo đó qui định là các tòa án được thiết kế không theo cấp hành chính. Hơn nữa, khi xét xử, thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp.

Nhân dịp Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất sửa đổi Hiến pháp 1992, bài báo của TS Nguyễn Sĩ Dũng, đúng như TuầnVietnam.net ghi chú là dịp để mọi người cùng suy gẫm về tư tưởng pháp quyền trong bản hiến pháp 1946, thứ tư tưởng quí giá mà nhiều chuyên gia cho rằng chưa thể hiện thực tế trong Hiến pháp hiện hành của Việt Nam.

 

Nam Nguyên
Theo RFA


 

Đề xuất sửa Hiến pháp từ năm 2011

Theo dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 trình Quốc hội sáng nay (2/6), Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề nghị bổ sung vào chương trình chuẩn bị dự thảo Nghị quyết sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 sẽ được thực hiện sau khi có chủ trương của Ban chấp hành Trung ương. Ủy ban cũng đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước để đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Cụ thể là định hướng cải cách tư pháp lấy tòa án làm trọng tâm, tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; nghiên cứu chuyển viện kiểm sát thành viện công tố, giao Thủ tướng thẩm quyền điều động, bổ nhiệm chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh; chủ tịch ủy ban nhân dân cấp trên điều động, bổ nhiệm chủ tịch ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân ở quận, huyện, phường…

Theo Ủy ban Pháp luật, “đây là những định hướng lớn, liên quan trực tiếp đến các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời cũng liên quan đến các quy định tương ứng của Hiến pháp”.

Một trong những định hướng của chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 là chú trọng xây dựng và ban hành các đạo luật bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, chống suy giảm kinh tế…

Đáng chú ý, Luật Thủ đô (đã được hoãn từ kỳ này) sẽ được chuyển sang cho ý kiến tại kỳ họp thứ tám (cuối năm) và thông qua tại kỳ họp thứ chín.

Các dự án đã được hoãn nhiều lần như Luật biển Việt Nam, Luật tiếp cận thông tin… chưa rõ khi nào sẽ được trình, dù đã nằm trong chương trình chuẩn bị của năm 2010.

Như vậy, năm tới, sẽ có 22 dự án luật, 2 dự thảo nghị quyết được nằm trong chương trình chính thức. 12 dự án luật, 1 dự thảo nghị quyết thuộc chương trình chuẩn bị.

Dự kiến, các Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo… sẽ được thông qua vào năm sau.

Các dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Quản lý giá, Bảo hiểm tiền gửi… nằm trong chương trình chuẩn bị nếu đủ điều kiện mới thông qua.

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 sẽ được Quốc hội thảo luận tại tổ và Hội trường trước khi thông qua tại kỳ họp này.

Hiền Anh
Nguồn: Vietnamnet.vn

 



Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền

Nếu pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ thì Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.

LTS: Sáu lăm năm trước, lúc vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ở vào một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Vận mệnh của Tổ quốc, nền độc lập của dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước nguy cơ mất còn. Vì vậy, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã xác định, một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là phải xây dựng cho được một bản Hiến pháp. Người chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”.

Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam đăng lại bài viết của TS Nguyễn Sĩ Dũng trên tờ PLTPHCM hồi năm 2005 về tư tưởng pháp quyền trong Hiến pháp 1946- ra đời cách đây trên nửa thế kỷ để mọi người cùng suy ngẫm.

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

60 năm đã trôi qua kể từ mùa thu năm ấy. Sống mãi với thời gian là các giá trị của Cách mạng tháng Tám: độc lập, tự do, dân chủ. Sống mãi với thời gian là tư tưởng pháp quyền kết tinh trong bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản hiến pháp đó còn được gọi là Hiến pháp 1946.

Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Trong đó có những điều chỉ vẻn vẹn một dòng. (Ví dụ Điều 12 được viết như sau: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”). Một trong những lý do giải thích sự ngắn gọn này là: Hiến pháp 1946 đã được thiết kế theo tư tưởng pháp quyền.

Nếu pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ thì Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.

Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Về mặt lý luận, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1- Hiến pháp phải do Quốc hội lập hiến thông qua; 2- Hoặc hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ ba năm. Như vậy, nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70 Hiến pháp 1946).

Hai là các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì cao hơn là nhà nước ghi nhận và bảo đảm. Vì rằng nếu nhà nước ghi nhận và bảo đảm thì quyền chủ động là thuộc nhà nước, nhưng nếu hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì nhà nước không có quyền chủ động ở đây.

Ba là quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ “quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36 Hiến pháp1946); quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40 Hiến pháp1946); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54 Hiến pháp 1946)…

Bốn là quyền năng giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được phân chia rất rõ. Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề “chung cho toàn quốc” (Điều 23 Hiến pháp 1946). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định “những vấn đề thuộc địa phương mình” (Điều 59 Hiến pháp 1946).

Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của toà án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: một là các toà được thiết kế không theo cấp hành chính (Điều 63 Hiến pháp 1946); hai là khi xét xử, thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69 Hiến pháp 1946).

Nguyễn Sĩ Dũng
Nguồn: Tuần Việt Nam

 

 


Share