Tổng hợp về pháp luật

Cần khẳng định rằng, không một người bình thường nào trong thế giới ngày nay lại không mong muốn được bảo vệ và  sống trong xã hội với một hệ thống pháp luật chuẩn mực. Để có hệ thống pháp luật chuẩn mực, trước hết pháp luật phải được ban hành thông qua thể thức dân chủ, không có cách nào khác đúng hơn. Tóm lại, có dân chủ thì mới đủ sức thực thi pháp luật công minhTrong các chính thể  do một đảng cầm quyền, hiển nhiên thể thức dân chủ bị trừ bỏ. Do đó, thể chế  độc đảng không thể xây dựng nhà nước pháp quyền đúng nghĩa.


Tham khảo:

Sửa  đổi Bộ luật TTHS: Gần nửa bộ  luật hiện hành “có vấn  đề”

12.2.2009

Theo đánh giá ban đầu, có  tới 150 điều luật được cho là  có vướng mắc…

Luật cho tòa có quyền khởi tố vụ án nhưng rất ít khi tòa thực hiện vì không phù hợp với chức năng.

Chỉ đạo của Quốc hội là sửa toàn diện Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (Bộ luật 2003). Ngay từ bây giờ  phải chuẩn bị kỹ các nội dung cần sửa đổi gắn với quá trình nghiên cứu mô hình mới của các cơ quan tố tụng theo Nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp. Dự kiến sang Quốc hội khóa sau sẽ thông qua bộ luật mới” – Viện trưởng VKSND tối cao Trần Quốc Vượng cho biết như trên tại buổi họp Ban soạn thảo Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi hôm qua (11-2).

Trước đây, VKSND tối cao (cơ  quan chủ trì soạn thảo) cùng TAND tối cao, Bộ  Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp… đã tổng kết năm năm thi hành Bộ luật 2003. Tổng hợp chung cho thấy Bộ luật 2003 đã góp phần tích cực vào việc đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp. Yếu tố dân chủ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm công bằng xã hội đã được chú trọng. Việc lạm dụng bắt khẩn cấp, hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự đã được khắc phục đáng kể. Chuyện bắt oan, sai, bỏ lọt tội phạm cũng được hạn chế. Đặc biệt, Bộ luật 2003 đã tạo bước chuyển lớn khi tăng thẩm quyền cho tòa cấp huyện, là cơ sở để hệ thống cơ quan tư pháp hoạt động theo nguyên tắc hai cấp xét xử…

Thiếu khả thi, chưa rõ thẩm quyền

Tuy nhiên, ý kiến tổng hợp từ cơ quan tư pháp các cấp cho thấy Bộ  luật 2003 vẫn còn nhiều bất cập chưa được tháo gỡ, chưa kể một số quy định thiếu thực tế, không khả thi.

Chẳng hạn, luật cho tòa có  quyền khởi tố vụ án là không phù hợp với chức năng xét xử của tòa và rất ít khi tòa thực hiện. Nguyên tắc tòa xét xử tập thể xảy ra vướng mắc: Bên hội thẩm chiếm đa số, có lúc quan điểm xét xử sai nhưng lại áp đảo quan điểm đúng đắn của thẩm phán; luật quy định mới về thủ tục xét xử rút gọn nhưng nguyên tắc tập thể nhiều khi hạn chế hiệu quả của thủ tục này…

Ngoài ra, luật chưa định rõ thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ các cơ  quan tố tụng, người tiến hành tố tụng, dẫn tới tình trạng nhập nhằng, đùn đẩy trách nhiệm giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án. Chẳng hạn, VKS được ra yêu cầu với cơ quan điều tra nhưng lại thiếu cơ chế ràng buộc cơ quan điều tra tuân thủ. Vì thế, nhiều khi VKS yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc thay đổi các quyết định tố tụng, yêu cầu điều tra bổ sung nhưng không ai thực hiện.

Cạnh đó, luật phân công, phân việc giữa thủ trưởng và phó thủ trưởng cơ quan điều tra; giữa viện trưởng và phó  viện trưởng; giữa chánh án với phó chánh án còn chưa rành mạch. Từ đó dẫn tới hiện tượng có  nơi cấp trưởng phân công cấp phó theo từng vụ việc thì thủ tục rườm rà, khó khăn khi cấp trưởng vắng mặt. Nơi khác ủy quyền phụ trách thường xuyên theo khối công tác thì công việc trôi chảy nhưng lại có người nói trái luật.

Theo Bộ luật 2003, thẩm quyền ra quyết định tố tụng chủ yếu thuộc về  người đứng đầu cơ quan điều tra, viện kiểm sát, trong khi trực tiếp tiến hành hầu hết hoạt động tố tụng lại là điều tra viên, kiểm sát viên. Người làm trực tiếp không có quyền, người có quyền lại không trực tiếp, chưa kể phụ trách cùng lúc quá nhiều án nên hoạt động điều tra, truy tố thường diễn ra chậm chạp. Để khắc phục, quy chế ngành kiểm sát cho phép ủy quyền phó trưởng phòng ở VKS cấp tỉnh; vụ trưởng, phó vụ trưởng ở VKSND tối cao được ký một số quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của viện trưởng, phó viện trưởng. Nhiều ý kiến cho rằng ủy quyền như vậy là “lách luật” và cơ quan điều tra một số nơi không chấp nhận.

Mâu thuẫn với luật khác

Bộ luật 2003 còn có một số điều mâu thuẫn với những luật ban hành sau. Chẳng hạn, luật về luật sư 2006 quy định giấy chứng nhận người bào chữa chỉ cần cấp một lần là có giá trị trong cả quá trình tố tụng trừ trường hợp thay đổi người bào chữa. Trong khi đó, Bộ luật 2003 lại đòi hỏi cứ tới mỗi khâu của quá trình tố tụng, luật sư lại phải xin giấy chứng nhận, gây khó cho hoạt động bào chữa trong tình trạng mà tới 80% vụ án vắng bóng luật sư.

Hơn nữa, Bộ luật 2003 mở  cho luật sư quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can, tham gia hỏi người bị tạm giữ, bị can. Thế nhưng phần lớn luật sư không thực hiện được quyền này bởi nếu điều tra viên chưa đồng ý thì luật sư dù có giấy chứng nhận bào chữa cũng chẳng thể tham gia. Phản ánh của giới luật sư cho thấy phạm vi thu thập tài liệu, đồ vật của người bào chữa còn quá hẹp, chỉ gói gọn trong đối tượng bị tạm giữ, bị can, bị cáo, thân nhân của họ hoặc từ cơ quan, tổ chức theo yêu cầu của những người này. Cơ chế đảm bảo cho luật sư được đọc, sao chép tài liệu cũng chưa cụ thể, rõ ràng…

Quy định về chứng cứ chưa ổn

Các quy định về chứng cứ  và chứng minh trong vụ án hình sự cũng còn nhiều điểm chưa ổn. Luật bó hẹp chứng cứ chỉ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do luật quy định khiến cho lời khai của người làm chứng, người bị hại được ghi nhận công khai cũng như tài liệu thu thập được một cách chính thống từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trước khi khởi tố vô tác dụng. Cơ quan điều tra thường phải mất công “làm mới” những chứng cứ này, làm phức tạp quá trình điều tra.

Luật cũng quy định nguồn chứng cứ chủ yếu theo “truyền thống” như  văn bản, dấu vết hiện trường… Nhưng ở thời đại công nghệ thông tin, nhiều dấu vết tội phạm chỉ tìm thấy được dưới dạng mã hóa trong các thiết bị điện tử. Vì vậy, nhiều cơ quan điều tra kiến nghị cần tạo điều kiện cho chứng minh tội phạm bằng các phương tiện điện tử.

Giới luật sư cũng rất băn khoăn về quy định chỉ cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa mới có quyền đánh giá chứng cứ để giải quyết vụ án. Vậy người bào chữa  đã thu thập chứng cứ thì có nên bổ  sung quyền đánh giá lại những tài liệu, đồ vật mà cơ quan tố tụng thu thập cho là chứng cứ?

Theo đại diện tổ biên tập của VKSND tối cao, tính ra có tới 150 điều luật, tức gần một nửa Bộ luật 2003 được phản ánh là  có vướng mắc. Tuy nhiên, đây chỉ là đánh giá ban đầu, cần phải nghiên cứu, thảo luận kỹ  hơn, tìm giải pháp sửa đổi hợp lý thì mới định khung được bộ luật mới. Mục tiêu cao nhất vẫn là vừa tăng cường tính dân chủ, bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng, vừa giúp cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trôi chảy, vừa nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.
Quy định thời hạn cứng nhắc

Thực tiễn hoạt  động tố tụng cho thấy quy định về các thời hạn tố tụng còn quá cứng nhắc. Luật hiện hành phân định chủ yếu theo loại tội phạm. Trong khi đó, những vụ giết người đặc biệt nghiêm trọng nhưng tình tiết rõ, chứng cứ quả tang, hung thủ nhận tội thì thời hạn điều tra dài nhưng có những vụ gây rối trật tự công cộng thuộc loại tội ít nghiêm trọng nhưng số người tham gia đông thì chỉ vài tháng điều tra là quá ngắn. Để tránh vi phạm, nhiều nơi phải hợp lý hóa bằng cách cứ ra kết luận điều tra cho kịp thời hạn rồi xin được trả hồ sơ để điều tra bổ sung tiếp…

http://www.phapluattp.vn/news/toa-an/view.aspx?news_id=242510


Góp  ý sửa đổi BLTTHS: Phải có  phiên tòa tranh tụng thật sự

Thêm thẩm phán, bớt hội thẩm nhân dân trong thành phần hội  đồng xét xử để phiên tòa có  chất lượng chuyên môn hơn.

Các số báo liên tiếp gần  đây, Pháp Luật TP.HCM đã đăng tải rất nhiều ý kiến tâm huyết góp ý sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Kỳ này, chúng tôi đã trao đổi với ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP.HCM (ảnh) xung quanh chức năng xét xử của tòa khi sửa luật.

Ông Danh nói BLTTHS 2003 vẫn còn mang dáng dấp của thời bao cấp nên cần thiết phải sửa đổi trong tình hình hiện nay. Không chỉ sửa riêng BLTTHS, cũng cần sửa luôn cả BLHS hiện hành và các luật khác mới phù hợp bởi luật quy định về hình thức phải luôn luôn song hành với luật quy định về nội dung.

Tăng thẩm phán, bớt hội thẩm

. Thưa ông, BLTTHS 2003 giao cho tòa quyền khởi tố vụ án, liệu có phù hợp với chức năng xét xử của tòa?

+ Theo tôi không nên giao cho tòa quyền quyết định khởi tố vụ án ngay tại phiên xử. Thực tiễn rất hiếm khi tòa nào làm việc này, thậm chí chúng tôi có ra quyết định khởi tố thì sau đó cơ quan điều tra cũng chưa chắc thực hiện được. Nhận thức của thẩm phán qua diễn biến tại phiên tòa đôi khi chỉ là chủ quan trong khi thực tế vụ việc ấy phức tạp hơn nhiều. Có khi ra quyết định khởi tố vụ án xong, giao cho VKS thì thẩm phán mới biết là không thể truy tố được và cũng chẳng có ai báo lại kết quả.

Vì thế, luật chỉ nên quy định khi hội đồng xét xử thấy cần khởi tố ai thì kiến nghị ngay trong bản án. Cơ quan điều tra, VKS sẽ thực hiện rồi báo lại cho tòa biết kết quả.

. Trong thành phần hội đồng xét xử, hội thẩm nhân dân chiếm đa số, có khi nào quan điểm xét xử sai lại áp đảo quan điểm đúng của thẩm phán, thưa ông?

+ Về vấn đề này, tôi nghĩ cũng phải sửa lại thành phần hội đồng xét xử theo hướng tăng chất lượng chuyên môn. Chẳng hạn hội đồng xét xử có ba người thì nên có hai thẩm phán và một hội thẩm; hội đồng xét xử năm người thì ba thẩm phán và hai hội thẩm. Bởi lẽ hội thẩm đại diện cho nhân dân theo tiêu chí tòa án nhân dân nhưng thẩm phán lại là người có chuyên môn hơn. Họ được đào tạo bài bản, có điều kiện nghiên cứu hồ sơ vụ án nhiều hơn, kỹ hơn so với những hội thẩm kiêm nhiệm công việc khác hoặc đã nghỉ hưu.

Sửa như vậy, phiên tòa vẫn đảm bảo được tính nhân dân mà lại có chất lượng chuyên môn nghiệp vụ cao. Theo luật hiện hành, hội thẩm ngang quyền thẩm phán và bản án quyết định theo tiêu chí thiểu số phục tùng đa số nên việc thay đổi này rất quan trọng.

Tranh tụng chứ không chỉ tranh luận!

. Hiện tại phiên xử, tòa vẫn phải xét hỏi chính, nhiều khi dồn ép bị cáo như một “công tố viên thứ hai”. Vậy ông nghĩ sao về mô hình tố tụng tranh tụng: Tòa là trọng tài, chủ yếu lắng nghe, đánh giá cán cân kiểm sát viên – luật sư mà phán quyết?

+ Chúng ta cần phân biệt rõ  bản chất giữa hai khái niệm tranh tụng và tranh luận còn đang được hiểu khá mơ hồ.

Như tôi đã nói ở  trên, BLTTHS 2003 còn mang dáng dấp thời bao cấp, chưa tiến bộ nhiều theo nền kinh tế thị trường. BLTTHS 2003 không có nguyên tắc tranh tụng mà chỉ đề cao vai trò tranh luận. Do đó, từ xưa đến nay tại tòa chỉ có tranh luận chứ chưa có tranh tụng nên không ngạc nhiên khi tòa “tạm làm thay” việc của VKS và luật sư là xét hỏi nhiều.

Mục đích của cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị là phải xây dựng tính tranh tụng trong phiên tòa sơ thẩm, thậm chí ngay từ giai đoạn điều tra. Nếu hiểu tinh thần cải cách tư pháp như thế thì việc sửa bộ luật lần này phải là một chỉnh sửa rất đặc biệt: Sửa gần như hầu hết bộ luật hiện hành! Chúng ta phải nghiên cứu xây dựng lại một bộ luật tiến bộ hơn để có một phiên tòa tranh tụng thật sự chứ không phải như hiện nay.

Mở rộng quyền của tòa

. BLTTHS 2003 cho phép tòa xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố, theo ông có phù hợp?

+ Tôi nghĩ cần phải sửa luật theo hướng mở rộng quyền hạn của tòa hơn nữa. Nó có thể sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo trong việc chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tự bảo vệ trước tòa nhưng vẫn phải làm và có thể làm được. Chẳng hạn, nếu tòa thấy cần phải chuyển sang một khoản khác nặng hơn trong cùng một điều luật hoặc chuyển sang một tội khác với tội mà VKS đã truy tố thì tòa ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử để tống đạt cho bị cáo trước khi mở phiên tòa. Quy định cụ thể như vậy vừa chặt chẽ vừa tạo điều kiện cho bị cáo, luật sư chuẩn bị.

Mở rộng hơn quyền hạn của tòa còn giải quyết được một vấn đề nữa là bỏ lọt tội phạm. Chẳng hạn theo luật hiện hành, bị cáo A có 10 hành vi phạm tội, VKS chỉ truy tố bảy hành vi thì tòa không được xử thêm ba hành vi còn lại dù đã xác định rõ sự thật. Điều này dẫn đến chuyện dễ bỏ lọt tội phạm khi lượng hình. Nên chăng tòa được xử luôn chứ không phụ thuộc vào cáo trạng của VKS?

. Theo BLTTHS 2003, cấp giám đốc thẩm chỉ được tuyên y án hoặc hủy án để điều tra xử lại chứ không có quyền sửa. Trong khi đó, có những bản án sai sót rất nhỏ, cấp giám đốc có thể sửa ngay, không nhất thiết phải hủy để xử lại?

+ Như vậy là bất cập và nên sửa quy định này. Có những sai sót rất nhỏ của bản án phúc thẩm đã có hiệu lực thì giám đốc thẩm nên sửa luôn, khỏi mất công hủy làm gì cho vụ án trở nên phức tạp. Mọi kiểm điểm, rút kinh nghiệm với cấp dưới có  thể làm sau chứ không nên cứng nhắc như vậy. Tôi nhớ trước kia cấp giám đốc thẩm vẫn có quy định được sửa trực tiếp nhưng sau một nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì quyền này đã bị hạn chế.

. Xin cảm ơn ông.

Nguồn: Pháp luật


Tổng hợp  ý kiến góp ý sửa  đổi BLTTHS: Thực thi nghiêm, hoàn thiện tiếp

Báo PLTPHCM 06.03.2009
LS PHAN ĐĂNG THANH
Cái khó hiện nay khiến các nguyên tắc tố tụng không được thực hiện đầy đủ là bởi đi vào từng việc thì chưa có quy định cụ thể.LTS: Trên 11 kỳ báo liên tiếp bắt đầu từ ngày 23-2, Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh nhiều góp ý sửa đổi BLTTHS năm 2003. Tổng hợp loạt ghi nhận này, chúng tôi mong rằng những ý kiến tâm huyết của các chuyên gia pháp luật sẽ được ban soạn thảo dự luật xem xét để góp phần hoàn thiện các quy định tố tụng hình sự trong thời gian tới.

Ngày 11-2 vừa qua, Ban soạn thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) sửa  đổi với sự chủ trì của VKSND tối cao đã tổng kết năm năm thi hành BLTTHS năm 2003. Nhận định chung là bên cạnh những mặt tích cực của BLTTHS hiện hành, vẫn còn nhiều bất cập, thiếu thực tế, không khả thi. Gần một nửa BLTTHS có vướng mắc, cần được hoàn thiện để đạt tới mục tiêu tăng cường tính dân chủ, bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp, vừa giúp cho hoạt động tố tụng tốt hơn vừa nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.

Một tuần sau, cuộc hội thảo do TAND tối cao phối hợp với Cơ quan hợp tác Nhật Bản tổ chức ngày 20-2 cũng đã chỉ ra hơn 40 tình huống, trường hợp vướng mắc thường xuyên trong quá trình thực hiện BLTTHS, dẫn đến việc  áp dụng pháp luật không thống nhất…

Từ thực tế  này, Pháp Luật TP.HCM đã tổ chức trao đổi nhằm thu thập thêm tiếng nói các giới chuyên gia trong lĩnh vực tố tụng hình sự để góp phần làm sáng tỏ nhận định trên. Nội dung thảo luận liên quan đến các vấn đề nổi cộm như việc mở rộng quyền bào chữa để bảo đảm thực thi nguyên tắc tranh tụng, việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội, mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp, việc xét xử của tòa…

Sẵn quy định tiến bộ nhưng chưa thực thi nghiêm

Không phủ nhận tính bất cập của BLTTHS năm 2003 nhưng TS Lê Thành Dương, Viện trưởng Viện phúc thẩm VKSND tối cao tại TP.HCM, vẫn cho rằng hiện nay pháp luật hiện hành đã có sẵn những chế định tiến bộ nhưng chưa được áp dụng nghiêm túc, đầy đủ.

Theo ông Dương, hiện BLTTHS và các luật khác đã quy định luật sư được tham gia bào chữa từ lúc bị can bị khởi tố, tạm giam; đối với bị can chưa thành niên khi hỏi cung phải có luật sư tham gia; nguyên tắc tranh tụng bình đẳng giữa VKS với luật sư và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, quyền bảo vệ của nhân chứng, thủ tục xét xử rút gọn… nhưng trong thực tế vì nhiều lý do, vì thiếu quyết tâm nên pháp luật chưa được thực thi nghiêm túc. Vì thế, ông Lê Thành Dương cho rằng “không cần đợi sửa đổi BLTTHS, chỉ cần một văn bản hướng dẫn dưới luật là có thể vận dụng các quy định tiến bộ sẵn có và từ đó việc tố tụng cũng có chuyển biến sâu sắc”.

Bàn về việc hoàn thiện BLTTHS năm 2003, TS Lê Thị Thu Thủy (giảng viên khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng có ý kiến tương tự: “BLTTHS thật ra cũng không đến nỗi “tồi” như thực tế chúng ta tưởng. Những vướng mắc trong thực tế thì các quy định đều đã có mà các nơi chưa thực hiện đến nơi đến chốn”. Và nói như ông Đinh Văn Quế, Chánh Tòa hình sự TAND tối cao: “Muốn thể hiện dân chủ, tranh tụng tại tòa thì hãy làm theo đúng BLTTHS và các văn bản pháp luật liên quan. Vậy là phiên tòa đã tuyệt vời lắm rồi”…

Tranh tụng phải ghi thành nguyên tắc

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng là cơ sở bảo đảm dân chủ  hóa quá trình tố tụng. Các chuyên gia tham gia ý  kiến đều đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Làm sao bảo đảm cho được việc tranh tụng bình đẳng ngay từ giai đoạn điều tra, nhất là phát huy vai trò của người bào chữa trong toàn bộ quá trình tố tụng.

LS-TS Phan Trung Hoài nêu yêu cầu minh thị trong BLTTHS: “Chỉ khi có  mặt luật sư hoặc nghi can từ chối luật sư thì điều tra viên mới được phép lấy lời khai của họ”. Còn trong giai đoạn xét xử, theo PGS-TS Nguyễn Thái Phúc: “Điều cần thiết là phải ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam”; “Tòa không tham gia xét hỏi mà chỉ điều khiển quá trình xét hỏi. Tòa phải giữ vai trò trọng tài vô tư, khách quan, điều khiển tranh tụng và phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng”.

Đồng quan điểm trên, theo TS Lê Tiến Châu (giảng viên Đại học Luật TP.HCM) thì “không nên giao cho tòa quyền khởi tố vụ án; quyền trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; xét hỏi chính tại phiên xử”. Về việc này, chính ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP.HCM, cũng nêu ý kiến: “Không nên giao cho tòa quyền khởi tố vụ án ngay tại phiên xử”.

Quy định càng chi tiết càng tốt

Cái khó hiện nay khiến các nguyên tắc tố tụng không được thực hiện  đầy đủ là bởi đi vào từng việc thì chưa có quy định cụ thể. Luật chưa đủ sức ràng buộc các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng, chưa bảo đảm thực hiện đúng mức quyền của người tham gia tố tụng, nhất là bị can, bị cáo, luật sư. Theo PGS-TS Phạm Hồng Hải: “Quy định càng chi tiết càng tốt để cơ quan tố tụng không thể thoái thác được”; “hiện nay BLTTHS quy định tương đối chi tiết về quyền năng tố tụng của cơ quan tố tụng, cán bộ tố tụng nhưng lại quá sơ sài, không cụ thể về trách nhiệm của họ”.

TS Chu Hải Thanh, Phó  Giám đốc Học viện Tư pháp, đề nghị trong BLTTHS sữa đổi cần có những quy định thể  hiện sự quan tâm hơn đối với phía người bị  hại, nhất là với người chưa thành niên, người bị khuyết tật hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khác…

Chánh tòa Hình sự  TAND tối cao Đinh Văn Quế cũng có nhiều phát biểu theo hướng cần tiếp tục hoàn thiện BLTTHS vì riêng phần xét xử đã có khoảng 40 bất cập, vướng mắc. Ông Quế đặc biệt quan tâm những việc liên quan đến công tác xét xử của tòa, từ sơ thẩm đến phúc thẩm, giám đốc thẩm, về thời gian xét xử… Nhưng với kinh nghiệm ở cương vị nhiều năm phụ trách lĩnh vực hình sự của TAND tối cao, ông Quế lại khẳng định không thể quy định nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS: “Chừng nào nước ta còn theo hệ thống pháp luật thành văn thì chừng đó không thể quy định nguyên tắc tranh tụng được”…

Xuất phát từ lĩnh vực công tác chuyên môn của mỗi người, tất cả  đều mong muốn BLTTHS sớm được hoàn thiện. Có luật rồi thì phải thực hiện các quy định nghiêm túc để nước ta có một nền tố tụng tiến bộ, bảo đảm công bằng, dân chủ, văn minh, không để lọt người phạm tội cũng như không làm oan người vô tội.
Th.S Đinh Văn Quế (Chánh Tòa hình sự TAND tối cao): Luật nên quy định phải ghi âm diễn biến phiên tòa (cùng sự ghi chép của thư ký phiên tòa) vì thư ký dù ghi nhanh đến mấy cũng không thể ghi hết mọi diễn biến.

TS Lê Thành Dương (Viện trưởng Viện phúc thẩm VKSND tối cao tại TP.HCM):Phải phân định trước mô hình tố tụng và các mối quan hệ giữa các cơ quan tố tụng thì BLTTHS mới có thể “sống lâu” được.

Thẩm phán Bùi Hoàng Danh (Chánh án TAND TP.HCM): Tại tòa chỉ có tranh luận chứ chưa có tranh tụng nên tòa phải “tạm làm thay” việc của VKS và luật sư là xét hỏi nhiều. Chúng ta phải xây dựng lại một bộ luật tiến bộ hơn để có một phiên tòa tranh tụng thật sự.

TS Chu Hải Thanh (Phó Giám đốc Học viện Tư pháp): Quan điểm cho rằng cần mở rộng hơn sự tham gia của những người khác luật sư vào hoạt động bào chữa là không phù hợp với xu hướng chính quy hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động bào chữa mà chúng ta đang hướng tới.

PGS-TS Nguyễn Thái Phúc: Phải ghi nhận tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam và tăng cường tính tranh tụng của phiên tòa sơ thẩm, coi đây là khâu đột phá theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị.

LS-TS Phan Trung Hoài (Đoàn luật sư TP.HCM): Nên quy định đưa vào hồ sơ toàn bộ chứng cứ mà công an và luật sư thu thập, tránh tình trạng bỏ sót những chứng cứ có lợi cho việc chứng minh nghi can vô tội.

LS-TS Phạm Hồng Hải (Đoàn luật sư TP Hà Nội): Vướng mắc hiện nay là cơ chế để thực thi những quy định của BLTTHS năm 2003. Do vậy, định hướng đầu tiên khi sửa luật là càng chi tiết càng tốt để các cơ quan tố tụng không thể thoái thác trách nhiệm.

TS Lê Thị Thu Thủy (Đại học Quốc gia Hà Nội): Nên có quy định về thủ tục tố tụng rút gọn đối với các tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, sở hữu trí tuệ, ngân hàng như một số nước để bảo vệ kịp thời quyền lợi của nhà nước, của các tổ chức, cá nhân tham gia những thị trường đặc biệt nhạy cảm này.

TS Lê Tiến Châu (Đại học Luật TP.HCM): Sửa quy định về chức năng xét xử theo hướng tòa là hạt nhân của các cơ quan tư pháp, độc lập với bên buộc tội và bên bào chữa.


Vấn  đề vi hiến và cơ chế  bảo hiến trong luật Việt Nam

Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khi quy định về giá trị pháp lý của Hiến pháp đều khẳng định một điều là  Hiến pháp có giá trị pháp lý…

1. Giá trị tối cao của Hiến pháp

Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khi quy định (từ những quy định mang tính hiến  định đến những quy định mang tính pháp định) về  giá trị pháp lý của Hiến pháp đều khẳng định một điều là Hiến pháp có giá trị pháp lý tối cao trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta.

Điều 146 Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa 10 (Hiến pháp 1992) quy định:

“Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có  hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp”

Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16/12/2002 (Luật BHVBQPPL 1996) quy định:

“Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

Văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải  được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành”

Bên cạnh đó, giá trị pháp lý của Hiến pháp còn được thể hiện thông qua các quy định về thủ tục ban hành và sửa đổi Hiến pháp nghiêm ngặt hơn so với các văn bản luật khác. Theo quy định tại Điều 147 Hiến pháp 1992 thì Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Trong khi đó, đối với các văn bản pháp luật khác do Quốc hội ban hành thì chỉ cần sự tán thành của quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội1[1].

Xét về mặt lý luận, với quy định về thủ  tục thông qua nghiêm ngặt hơn so với các văn bản pháp luật khác, Hiến pháp nước ta được xếp vào loại hiến pháp cương tính. Và hiến pháp cương tính là hiến pháp được suy tôn có những ưu thế đặc biệt so với các luật thường2[2].

Căn cứ vào thủ tục thông qua, thay đổi hiến pháp, người ta chia hiến pháp ra thành hiến pháp nhu tính và hiến pháp cương tính

Hiến pháp nhu tính là loại hiến pháp có thủ tục thông qua bình thường như mọi đạo luật và có thể được sửa đổi bởi chính cơ quan lập pháp, theo thủ tục thông qua các đạo luật bình thường. Hiến pháp của nước Anh là một ví dụ điển hình về hiến pháp nhu tính.

Hiến pháp cương tính là loại hiến pháp phải được thông qua bởi một cơ quan đặc biệt là Quốc hội lập hiến (chứ không phải cơ quan lập pháp) hoặc toàn dân biểu quyết. Thủ tục thông qua hoặc sửa đổi hiến pháp cũng được quy định khá chặt chẽ, ngặt nghèo hơn. Chẳng hạn nếu như việc thông qua bình thường chỉ cần quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành thì đối với Hiến pháp phải có 2/3 hoặc 3/4 tổng số đại biểu tán thành3[3].

Mặt khác, cũng xét về mặt lý luận, thì Hiến pháp là văn bản luật chủ đạo trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Tính chủ đạo được thể hiện như sau:

– Nội dung của Hiến pháp là cơ sở để ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật khác.

– Một khi các quy định trong Hiến pháp thay đổi thì tất yếu các văn bản quy phạm pháp luật khác cũng phải thay đổi theo.

Nhà  nước chúng ta là nhà nước pháp quyền xã  hội chủ nghĩa và hoạt động theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nên các cơ  quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Và việc tuân thủ Hiến pháp của các cơ quan nhà nước trước tiên được thể hiện ở công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình phải phù hợp với Hiến pháp.

Như  vậy, trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta thì Hiến pháp có giá trị pháp lý cao nhất, mọi văn bản quy phạm pháp luật khác khi được ban hành đều phải tuyệt đối phù hợp với các quy định của Hiến pháp, bất kỳ văn bản nào có những quy định trái với Hiến pháp (vi hiến) đều phải bị bãi bỏ, bị đình chỉ thi hành.

2. Vấn đề vi hiến

Về  vấn đề vi hiến và vấn đề vi phạm các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật mang tính Hiến định hiện nay, theo thống kê và xem xét của chúng tôi, thì có thể tạm chia thành hai loại là vi phạm một cách chủ động và vi phạm một cách thụ động4[4].

Vi phạm một cách chủ động. Đây là hình thức vi phạm khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm, quyền hạn của mình đã đặt ra những quy định trái với những quy định của Hiến pháp hoặc là trái với tinh thần của Hiến pháp. Dạng vi phạm này trong thời gian qua xảy ra khá phổ biến và chủ yếu tập trung ở các  các văn bản dưới luật. Nguyên nhân phát sinh ra những vi phạm này  chủ yếu xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, do các cơ quan (vi phạm) này hầu hết là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý, nên khi đưa ra các quy định để thực hiện việc quản lý thì luôn đưa ra những quy định tạo nhiều thuận lợi cho công việc của mình và vô hình trung, đẩy những bất lợi về phía người dân (đối tượng chịu sự quản lý) và vì thế mà đồng thời vi phạm các quyền của người dân được Hiến pháp quy định. Thứ hai là, xuất phát từ lý do thứ nhất, các cơ quan này không cho rằng những quy định của mình ban hành ra là vi phạm Hiến pháp và lập luận rằng, nó rất cần thiết cho việc thực hiện các chức năng, quyền hạn của mình. Có thể dẫn chứng hàng loạt các việc thuộc dạng vi phạm này trong thời gian qua. Ví dụ như việc quản lý dân sự bằng hộ khẩu của các cơ quan nhà nước đã vi phạm các quyền hiến định của công dân, đặc biệt là quyền tự do cư trú. Mặc dù đến thời điểm hiện nay các vấn đề vướng mắc về quyền công dân liên quan đến hộ khẩu đã được cơ bản giải quyết bằng Luật Cư trú, nhưng vấn đề chúng tôi muốn đặt ra ở đây là có những quy định của các cơ quan nhà nước đã trực tiếp hoặc là gián tiếp vi phạm các quyền hiến định của công dân. Hay nói như TS. Lê Đăng Doanh: “Đã có việc các cơ quan nhà nước cứ làm mà không nghĩ đến Hiến pháp (như việc cấm đăng ký xe máy trước đây), việc nhiều bộ ngành làm sai luật, việc ban hành giấy phép, điều kiện kinh doanh, hạn chế quyền kinh doanh của người dân… mà không bị một cơ quan nào phán xét cả”5[5].

Vi phạm một cách thụ động. Dạng vi phạm này thực chất là rất khó nhận thấy. ở dạng vi phạm này thì các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ đã không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa việc thực hiện các quy định của Hiến pháp hoặc không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mà theo quy định là phải ban hành. Ví dụ, theo quy định tại Điều 70 Hiến pháp 1992 thì công dân có quyền tự do biểu tình theo quy định của pháp luật. Phân tích điều luật này chúng ta sẽ thấy là công dân có quyền tự do biểu tình và muốn biểu tình thì phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và muốn người dân tuân thủ các quy định của pháp luật thì phải có pháp luật để người dân tuân theo. Nhưng thực tế, đến thời điểm hiện nay  chúng ta chưa có bất kỳ văn bản nào quy định chi tiết về việc tự do biểu tình của người dân. Do đó, quyền biểu tình của người dân không thể thực hiện được trên thực tế. Như vậy, chúng ta thấy là khi các cơ quan nhà nước có trách nhiệm đã không ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cũng đồng nghĩa với việc vi phạm Hiến pháp.

Hoặc, theo quy định tại  Điều 7 Hiến pháp 1992 thì cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân6[6]. Nhưng nếu chỉ căn cứ vào quy định trên thì cử tri không thể thực hiện được quyền bãi nhiệm các đại biểu dân cử của mình, mà nhất thiết phải có một văn bản quy phạm pháp luật quy định một cách cụ thể và chi tiết hơn. Và đến thời điểm hiện nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa ban hành bất kỳ văn bản nào quy định về vấn đề này.

Ngoài ra, hình thức vi phạm này cũng có thể bắt gặp khi đối chiếu một quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 với thực tế. Đó là quy định tại khoản 2 Điều 7: “Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực”. Nhưng trong thời gian qua, thực trạng luật chờ nghị định vẫn diễn ra một cách phổ biến trong công tác lập pháp của các cơ quan nhà nước ở nước ta.

3. Cơ chế bảo hiến của nước ta hiện nay

Về  cơ chế bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp (bảo hiến) ở nước ta thì đến nay, chúng ta vẫn chưa có cơ quan độc lập và chuyên trách để thực hiện chức năng này. Khi xem xét về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước, thì có rất nhiều cơ quan có thẩm quyền tham gia vào việc bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp. Trong các cơ quan đó, ủy ban Pháp luật của Quốc hội tạm được xem là chuyên trách nhất trong vấn đề bảo hiến, vì cơ quan này có chức năng, nhiệm vụ là bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua7[7]. Nhưng đây lại không phải là nhiệm vụ, quyền hạn duy nhất của cơ quan này, mà cơ quan này còn rất nhiều các nhiệm vụ, quyền hạn khác và hầu như, trong thời gian qua, ủy ban Pháp luật buông xuôi chức năng này8[8].

Ngay cả khi, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội làm tốt chức năng này, thì công việc của Uỷ ban vẫn thuộc giai đoạn “tiền kiểm”, còn ở giai đoạn “hậu kiểm”  thì cơ chế bảo hiến của nước ta hiện nay lại được thực hiện thông qua cơ chế giám sát trong chức năng giám sát9[9] tối cao của Quốc hội10[10] và các cơ quan thực hiện chức năng bảo hiến cũng thông qua chức năng giám sát.

Điều 1 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 về chức năng giám sát tối cao của Quốc hội quy định: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ  họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Còn hoạt động giám sát của từng cơ quan lại bao gồm cả hoạt động bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp thông qua việc xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước khác có  trái với Hiến pháp hay không. Điều này được thể hiện qua các quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 về hoạt động giám sát của các cơ quan này:

– Quốc hội có quyền xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội11[11].

– ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội12[12].

– Hội đồng dân tộc và ủy ban của Quốc hội13[13] có quyền xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên14[14].

*

Như  vậy, có thể kết luận là ở nước ta hiện nay chưa có một cơ quan độc lập và  chuyên trách để thực hiện chức năng bảo vệ tính tối thượng của Hiến pháp. Mà chức năng bảo hiến này hiện được thực hiện thông qua chức năng giám sát tối cao của Quốc hội và nó được lồng ghép vào với nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan khác nhau. Trong tiến trình xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với yêu cầu hội nhập sâu rộng về nhiều mặt trong các quan hệ quốc tế, thì việc chúng ta có được một cơ quan bảo hiến độc lập và chuyên trách để đảm bảo những quy định của Hiến pháp luôn được tôn trọng và thực thi là vô cùng cấp bách


Đã  đến lúc lập tòa án hiến pháp

Pháp luật – Chủ Nhật, 10/06/2007

TTCT – Vừa hơn một năm kể từ khi kết thúc Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù nghị quyết Đại hội X có nhiều nội dung mới, tích cực, song đáng tiếc là cho đến nay một số nội dung đó chưa được thực hiện trong cuộc sống.

Đại hội yêu cầu: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền”; “Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Đó là những nội dung tiến bộ, quan trọng, đã tạo cơ sở để ta nghĩ đến việc lập tòa án hiến pháp. Tuy nhiên, dù đã nói tới lâu rồi nhưng việc lập tòa án này vẫn chưa thành hiện thực. Nhiệm kỳ Quốc hội (QH) mới nên làm điều này, vì muốn kinh tế phát triển phải tạo ra một môi trường pháp lý hoàn thiện.

Đã có việc các cơ quan nhà nước cứ làm mà không nghĩ đến hiến pháp (như việc cấm đăng ký xe máy trước đây), việc nhiều bộ ngành làm sai luật, việc ban hành giấy phép, điều kiện kinh doanh, hạn chế quyền kinh doanh của người dân… mà không bị một cơ quan nào phán xét cả. Nếu được thành lập, tòa án hiến pháp sẽ là một thiết chế để bảo vệ nhân dân, tránh sự cẩu thả và suy diễn, cũng như thói quen làm việc mà không cần nghĩ đến luật của các cơ quan nhà nước. Từ sự phán quyết của tòa án này dựa trên cơ sở hiến pháp, tiền đề cho một nhà nước pháp quyền mới được xây dựng. Bởi nếu chỉ có công dân tuân theo pháp luật thôi chưa đủ.

Chúng ta nói đến cải cách hành chính, cải cách đó tập trung vào yếu tố  một cửa, như thế là hẹp. Trong khi đó, nghị  quyết đại hội Đảng rộng hơn rất nhiều. Từ lâu tôi đã nêu mệnh đề nhà nước không thể tự cải cách mình, giống một người ốm không thể tự chẩn bệnh và điều trị cho bản thân mà phải có sự giám sát. Có rất nhiều công việc phải làm như phát huy quyền giám sát của người dân, tăng cường vai trò của các hiệp hội. Nhưng liên quan đến các cơ quan chức năng có quyền lực lớn thì cần phải có một cơ quan có quyền phán quyết dựa trên hiến pháp.

Khi Đảng đã đặt mục tiêu xây dựng một nhà nước pháp quyền nghĩa là đã định hướng mọi tổ chức đều phải tuân theo pháp luật. Đảng càng nghiêm túc trong tôn trọng ý kiến, lợi ích của dân, tôn trọng hiến pháp, pháp luật bao nhiêu thì càng tăng niềm tin, sự đồng thuận của dân đối với chính sách của Đảng. Dân “tâm phục, khẩu phục” thì các chính sách dễ được thực hiện đầy đủ, không hình thức.

Khi tòa án hiến pháp  được thành lập, để tránh ảnh hưởng đến những phán quyết của nó thì các thành viên của tòa này nên do QH bầu và họ sẽ được ở vị  trí đó đến hết đời, không ai có quyền tước quyền của họ như cách làm của hầu hết các nước khác trên thế giới. Về công việc, tòa này sẽ có quyền xem xét, phán quyết, tuyên vô hiệu tất cả văn bản vi phạm hiến pháp, kể cả của QH.

Người VN nói chung chưa quen tuân thủ pháp luật một cách triệt để, chưa quen có một tổ chức độc lập. Bộ máy nhà nước của chúng ta vẫn đang ở dạng nhân trị chứ chưa phải pháp trị. Như cán bộ địa phương thì vẫn rất ngại đụng đến quyết định của lãnh đạo địa phương mình, dù biết ý kiến chỉ đạo của vị ấy sai luật. Mục tiêu nhà nước pháp quyền vẫn đang ở phía trước và nó có đến hay không, nhanh hay chậm đang phụ thuộc vào quyết tâm của Nhà nước. Nhiều người có thể nói rằng đặc thù ở ta chưa phù hợp cho tòa án hiến pháp. Nhưng nghị quyết Đại hội Đảng X đã định hướng rất rõ rồi, giờ đến lúc phải làm chứ không thể trì hoãn mãi. Tôi mong QH khóa XII sẽ nhanh chóng thực hiện chủ trương này.

Trong một đất nước mà dân chủ được coi là mục tiêu thì  các cơ quan quyền lực đều phải bị giám sát, như QH được giao giám sát Chính phủ. Nhưng ai giám sát QH? Chưa có, nếu có, tòa án hiến pháp sẽ làm điều đó. Điều này sẽ giúp hoàn thiện vòng tròn giám sát, đưa luật lên vị trí tối thượng, tạo một nhà nước pháp quyền, không cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào đứng trên pháp luật.

Xã hội đã thay đổi, dân trí đã được nâng cao một bước, công nghệ thông tin đã mở rộng khả năng tiếp cận thông tin nhiều chiều của người dân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc thực hiện kịp thời những quyết định đúng đắn của Đại hội X sẽ góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, công khai minh bạch và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Việc này càng làm sớm chừng nào hay chừng đó!

TS LÊ  ĐĂNG DOANH


Ai “huýt còi” khi hiến pháp bị  xâm phạm?

Tuổi Trẻ – “Tính tối cao và bất khả  xâm phạm của Hiến pháp”  trên thực tế đã xuất hiện một số  tình huống được cho là  bị xâm phạm (đang nóng là  vấn đề quản lý bằng sổ  hộ khẩu) nhưng cơ chế xử lý vẫn còn “trống”.

TTCN trao đổi với ông Vũ Mão – Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội – về một cơ chế bảo hiến (bảo vệ hiến pháp). Ông cho biết:

Các nước trên thế  giới đều có cơ chế bảo hiến cụ  thể, cả về tổ chức để đảm bảo tính chất chặt chẽ trong thực thi và tuân thủ hiến pháp, xử lý những vi phạm hiến pháp. Không chỉ ở cấp cơ sở và người dân mà chính từ cấp có thẩm quyền, ngay từ hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Về nguyên lý, người ta phân biệt Quốc hội lập hiến, Quốc hội lập pháp. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thiêng liêng, còn được gọi là “thần linh pháp quyền”. Quốc hội lập hiến hoàn thành sứ mệnh thì bầu Quốc hội lập pháp để xây dựng, hoàn chỉnh pháp luật trên nền tảng đạo luật cơ bản là hiến pháp. Quốc hội lập pháp không được “đụng” đến hiến pháp. Ai muốn thay đổi phải trưng cầu ý dân!

Cơ quan bảo hiến có trách nhiệm giám sát, theo dõi, không cho ai “đụng”  đến hiến pháp. Ai muốn ra một đạo luật, quyết  định gì đó trái với hiến pháp là không được phép. Có nước cơ quan này ở vị trí  rất cao, do quốc hội lập hiến bầu ra, độc lập với Quốc hội lập pháp. Có nước cơ quan này như một ủy ban thuộc quốc hội. Cũng có nước trao quyền bảo hiến cho tòa án, gọi là tòa án hiến pháp.

* Với Việt Nam, việc thiết lập mô hình cơ  quan bảo hiến như thế  nào là phù hợp, thưa ông?

– Qua nghiên cứu, chúng ta càng nhận thức rõ ràng cần phải có cơ  chế bảo hiến. Nhưng áp dụng cái gì, vận dụng cái gì phải tính rất kỹ, nghiên cứu rất sâu chứ  không vận dụng máy móc. Vì mỗi nước một kiểu, có hình thức khác nhau. Ta tham khảo vì họ đi trước nhưng phải xuất phát từ thực tiễn của ta.

Chúng ta có dự  định lập cơ quan bảo hiến độc lập với Quốc hội? Ta không có Quốc hội lập hiến riêng nhưng Quốc hội có thể lập ra một cơ quan bảo hiến. Quốc hội bầu ra nhưng cơ quan này có chức năng độc lập. Quốc hội giám sát cơ quan hành pháp, tư pháp, vậy ai giám sát Quốc hội? Bây giờ Quốc hội có những qui định không phù hợp với hiến pháp thì sao? Thì chính cơ quan bảo hiến giám sát Quốc hội.

Đồng thời, những hoạt động của Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan tư pháp có chỗ không phù hợp với hiến pháp, thậm chí của người đứng đầu cơ quan, kể cả cao nhất của Nhà nước, cơ quan bảo hiến cũng có quyền xem xét.

* Nếu cơ quan bảo hiến do Quốc hội bầu ra, sau đó trở lại giám sát Quốc hội e rằng không khách quan?

– Đặt ra mô hình như vậy rõ ràng có tính hợp lý này lại không có tính hợp lý kia. Nhưng theo tôi, Quốc hội bầu ra cơ quan bảo hiến nhưng cơ quan này độc lập với Quốc hội trong những ý kiến của họ. Như vậy khi họ nêu ý kiến ra, Quốc hội sẽ thảo luận. Nếu Quốc hội không đồng ý với cơ quan bảo hiến, cần thiết phải trưng cầu ý dân.

* Nhưng nếu thành lập cơ quan bảo hiến dù thuộc hay độc lập với Quốc hội cũng ảnh hưởng đến quyền giám sát tối cao của Quốc hội?

– Vấn đề đó phải thảo luận. Thật ra mà nói, giao cho cơ quan bảo hiến chức năng nhiệm vụ gì, họ có quyền làm như thế. Tuy là cơ quan của Quốc hội nhưng họ được làm những chức năng độc lập. Quốc hội và các cơ quan khác của Quốc hội cũng phải tuân thủ.

Ví dụ Ủy ban Pháp luật có chức năng, nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản luật. Tức là khi trình luật ra trước Quốc hội thì phải hỏi ý kiến của Ủy ban Pháp luật về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản. Nếu bây giờ có cơ quan bảo hiến, Quốc hội khi làm luật phải hỏi ý kiến cơ quan này.

* Cũng có ý kiến cho rằng với mô hình “tam quyền phân lập” sẽ giải quyết ổn thỏa về cơ chế bảo hiến và bảo đảm kiềm chế, giám sát lẫn nhau giữa ba nhánh quyền lực là lập pháp, hành pháp và tư pháp?

– Chỗ này cũng phải thảo luận. Thật ra chúng ta không công nhận “tam quyền phân lập” vào thể chế của mình. Cũng có những nhà lý luận, nghiên cứu học giả phân tích sâu về lĩnh vực này. Nhưng trên thực tiễn, đây đều là những vấn đề mới, chưa ai có thể nói “tôi quả quyết thế này, quả quyết thế kia”.

* Theo ông, đến bao giờ chúng ta có thể thành lập được cơ quan bảo hiến?

– Đã đưa vào dự  thảo báo cáo chính trị, sẽ thành nghị quyết của Đại hội Đảng, đương nhiên mục tiêu thực hiện trong năm năm tới.

* Trong khi chờ  một cơ chế bảo hiến thì  ai sẽ bảo vệ hiến pháp?

– Hiện nay, Ủy ban Pháp luật có chức năng đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam, tính hợp hiến và hợp pháp. Về mặt nào đó, ta chưa có cơ quan bảo hiến độc lập thì về cơ bản Ủy ban Pháp luật có trách nhiệm, quyền hạn để thực hiện phần nào. Nhưng thật ra chức năng này cũng chưa rõ! Trong khi Ủy ban Pháp luật quá bận rộn xây dựng luật và thực hiện giám sát.

* Gần đây, có người cho rằng sổ hộ khẩu với nhiều ràng buộc đang gây khó dễ cho người dân là hạn chế quyền tự do đi lại, cư trú của công dân, là trái với hiến pháp. Ủy ban Pháp luật sẽ phải “gánh” để xử lý vấn đề này?

– Đây là vấn  đề “trống”, chưa thật chặt chẽ hiện nay. Hiến pháp ghi nhận công dân Việt Nam có quyền tự  do đi lại, cư trú… Trên thực tiễn, văn bản dưới luật của Chính phủ, bộ ngành hoặc địa phương nào đó qui định ràng buộc phải thế này, thế kia không phù hợp với hiến pháp, nói trắng ra là vi hiến!

Ai là người giám sát, phân tích, ai là người “huýt còi”, “thổi còi” cái này. Bây giờ chưa có ai thì  là Ủy ban Pháp luật. Nhưng lý do khác về mặt pháp lý thì họ bảo “chúng tôi chưa được giao rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ này”.

* Nhà nước pháp quyền đòi hỏi quán triệt và tuân thủ nguyên tắc tính tối cao và bất khả xâm phạm của hiến pháp. Lâu nay chúng ta thường nói mọi hoạt động của Nhà nước và xã hội, kể cả của Đảng cũng phải tuân thủ hiến pháp?

– Điều 4 của hiến pháp nói là “Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và toàn thể xã hội”. Nhưng đồng thời “chấm xuống dòng” có  chỗ “mọi tổ chức của Đảng hoạt  động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật”. Nghĩa là Đảng lãnh đạo nhưng phải tuân theo pháp luật!

Bây giờ làm một số luật có ý kiến đề nghị phải  đưa Đảng vào. Vai trò Đảng lãnh đạo thế nào, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng ra sao? Nhưng một loại ý kiến khác: “Đưa vào nghe buồn cười! Không nên đưa vào!”. Nhưng có người bảo là né tránh! “Thật sự Đảng lãnh đạo! Chúng ta là những người duy vật biện chứng, thực tế có một cơ chế, tổ chức lãnh đạo như thế, bây giờ phải cụ thể hóa! Nhà nước pháp quyền là phải cụ thể hóa! Phải rõ ràng, minh bạch Đảng lãnh đạo cái gì?”.

Cho nên có người nghĩ tới việc cũng phải có luật về Đảng do Quốc hội thông qua. Đảng lãnh đạo Quốc hội nhưng Quốc hội thông qua luật về Đảng để thể chế  hóa. Tất nhiên cũng có người hỏi: “Như vậy Quốc hội trên Đảng à?”. Quốc hội không trên  Đảng! Đảng lãnh đạo Quốc hội nhưng phải tuân thủ đạo luật đó.

Bây giờ bảo ai giám sát Đảng? Bảo là nhân dân giám sát Đảng. Nhưng nhân dân giám sát bằng cơ chế nào? Có  phải chăng khi đã có một luật về Đảng và  Đảng lãnh đạo thì nhân dân giám sát căn cứ  vào đấy? (Mà thay mặt cho nhân dân là Quốc hội).

* Quan điểm của ông về vấn đề này?

– Tôi ủng hộ  xu hướng phải rõ ràng. Mà cần thiết rõ ràng để mọi người tuân thủ!
Ba phương án lập cơ quan bảo hiến

– Phương án 1: Quốc hội thành lập ủy ban giám sát hiến pháp trực thuộc Quốc hội để giúp Quốc hội thực hiện việc bảo hiến đối với các văn bản pháp luật do Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chính quyền địa phương ban hành.

Thành viên của ủy ban giám sát hiến pháp phải là các đại biểu Quốc hội được bầu theo thủ tục thông thường. Ủy ban giám sát hiến pháp có trách nhiệm trình báo cáo kết quả giám sát của mình để Quốc hội xem xét và quyết định.

Với mô hình ủy ban giám sát hiến pháp này, Quốc hội tiếp tục được khẳng định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Về thực chất ủy ban giám sát hiến pháp chỉ là một cơ quan thuộc Quốc hội, một cơ cấu mang tính giúp việc chứ không thể trở thành một cơ cấu có quyền quyết định về tính hợp hiến của các văn bản pháp luật được giám sát. Đối tượng giám sát của ủy ban giám sát hiến pháp cũng chỉ là các văn bản pháp luật từ pháp lệnh trở xuống. Như vậy các đạo luật vẫn nằm ngoài sự giám sát tính hợp hiến của chúng. Do vậy hoạt động thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội về cơ bản vẫn không phải là đối tượng giám sát nhìn từ yêu cầu đòi hỏi của nguyên tắc về tính tối cao và bất khả xâm phạm của hiến pháp.

– Phương án 2: Thành lập cơ quan bảo hiến độc lập không thuộc Quốc hội, thực hiện độc lập các hoạt động giám sát tính hợp hiến của các hoạt động nhà nước, cả hoạt động lập pháp của Quốc hội. Đây là một phương án khá phổ biến trong nhiều mô hình nhà nước pháp quyền trên thế giới. Tính độc lập của cơ quan bảo vệ hiến pháp (có thể là hội đồng bảo hiến, tòa án hiến pháp…) được đảm bảo bởi tính cân bằng trong quan hệ quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.

Trong điều kiện cụ  thể ở nước ta, mô hình cơ quan bảo hiến  độc lập này còn phải gắn liền với vai trò giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước từ phía Đảng cầm quyền – Đảng Cộng sản VN. Nếu phương án này được xây dựng thì khả năng độc lập và sức mạnh tài phán của cơ quan bảo hiến này được đảm bảo trước hết bởi Đảng Cộng sản VN.

Với mô hình này, người đứng đầu cơ quan bảo hiến (có thể  là tòa án hiến pháp) sẽ do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, các thành viên của các cơ quan này có thể do Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch nước.

Cơ chế bảo hiến với mô hình cơ quan bảo hiến độc lập tất yếu sẽ làm thay đổi các quan hệ tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất sẽ phải được nhận thức lại.

– Phương án 3: Cơ cấu lại tổ chức và thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, theo đó Tòa án nhân dân tối cao được trao quyền bảo vệ hiến pháp.

Để thực hiện được thẩm quyền bảo vệ hiến pháp, Tòa án nhân dân tối cao cần được qui định lại về vị trí, chức năng trong bộ máy nhà nước, bỏ bớt một số chức năng hiện hành để tập trung vào chức năng bảo vệ hiến pháp; cơ  cấu lại số lượng, chất lượng, thành phần và phương thức bổ nhiệm đặc biệt đối với các thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, để đảm bảo năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp của mỗi một thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm thiêng liêng là bảo vệ hiến pháp trước mọi sự xâm hại có thể xảy ra.

Dù cơ quan bảo hiến sẽ được thiết lập theo mô hình nào chăng nữa, thì việc xuất hiện một cơ quan bảo hiến sẽ làm thay đổi nội dung và phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta.

(Đề xuất của Viện Khoa học tổ chức thuộc Ban Tổ chức trung ương)

TRẦN  ĐỨC BÌNH thực hiện


Hệ  thống Tư pháp VN xếp gần cuối bảng ở Châu Á

Bản thăm dò của Tổ Chức Tư Vấn Các Rủi Ro Kinh Tế và  Chính Trị, gọi tắt là PERC, xếp Việt Nam đứng kế  cuối trong bảng xếp hạng các thể chế tư  pháp khu vực Châu Á.

Vụ Thứ trường Nguyễn Việt Tiến bị bắt giam vì tham nhũng, sau đó lại được trắng án, được phục hồi sinh hoạt đảng, rồi lại bị cách chức… cho thấy sự yếu kém của ngành tư pháp Việt Nam.

Bộ Trưởng Tư  Pháp Anh Quốc, Jack Straw thăm Việt Nam, đọc diễn văn tại  Đại Học Luật Hà Nội, nói rằng “Luật pháp có thể giúp người dân làm chủ cuộc sống trong sự nhận thức toàn diện về quyền và nghĩa vụ.”

Trong khi đó, thì một thăm dò tại Hồng Kông xếp Việt Nam đứng kế  cuối trong bảng xếp hạng các môi trường pháp lý  Châu Á. Biên tập viên Thiện Giao có thêm chi tiết sau đây.

Trong cùng một thời  điểm, có 2 sự kiện liên quan đến nhận thức và đánh giá về hệ thống tư pháp Việt Nam. Sự kiện thứ nhất là bài diễn văn của Bộ Trưởng Tư Pháp Vương Quốc Anh, Jack Straw, tại Đại Học Luật Hà Nội. Sự kiện thứ hai là bản thăm dò về các hệ thống tư pháp tại Châu Á do tổ chức PERC thực hiện tại Hồng Kông.

Bài diễn văn ngày 11 tháng chín của Bộ Trưởng Jack Straw, trong khi đề cập  đến khái niệm “dân chủ,” “nhân quyền”  và “quyền tự do công dân,” thì ông Bộ Trưởng nói rằng ông “hy vọng là trong vòng bốn mươi năm nữa, Việt Nam có thể khẳng định vị trí trên trường quốc tế, trong vai trò một lực đẩy tiến bộ mang lại sự thay đổi xã hội cũng như phát triển kinh tế, dựa trên nền tảng luật pháp và tôn trọng nhân quyền.”

Trong khi đó, bản thăm dò của Tổ Chức Tư Vấn Các Rủi Ro Kinh Tế  và Chính Trị, gọi tắt là PERC, xếp Việt Nam đứng kế cuối trong bảng xếp hạng các thể chế tư pháp khu vực Châu Á.

Nguyên do?

Theo tạp chí The Economic Times, thì Tổ Chức PERC nói rằng đối với trường hợp Việt Nam và Trung Quốc, vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ 2 quốc gia này thiếu tự do chính trị; cụ thể là Đảng Cộng Sản ở cả 2 quốc gia này “nằm trên luật pháp.”

Cách đây không lâu, Toà  Án Việt Nam tiến hành xét xử một nhân vật khiến giới bất đồng chính kiến bất mãn. Đó là vụ  bắt giam blogger Điếu Cày, và xét xử ông về  tội “trốn thuế” trong khi trên thực tế người ta biết ông là người biểu tình chống Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ.

Your browser may not support display of this image.

Sau khi Thử trưởng Nguyễn Việt Tiến được tuyên bố trắng án hôm 28-3-2008, nhiều nhà báo phanh phui vụ tham nhũng PMU18 lại bị bắt giam, khởi tố. RFA file photo.

Trong cuộc phỏng vấn chỉ một ngày trước phiên xử, luật sư của Điếu Cày, là ông Lê Công Định nói rằng “có thể toà đã có kết luận của họ.”

“Về mặt hồ sơ chứng cứ thì chúng tôi rất tự tin. Nhưng những vụ như thế này, trước đây đã từng xảy ra, nên kết quả thì tôi không thể biết trước. Có thể Toà  đã có kết luận của họ rồi. Việc ra toà hôm nay chỉ theo đúng trình tự pháp luật mà làm. Còn có bản án công bằng cho ông Nguyễn Văn Hải [Điếu Cày] hay không thì phải đợi đến phiên xử mới có câu trả lời.”

Trong khi bài diễn văn của Bộ Trưởng Straw đề cập đến Nghị Quyết số 48 của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam với những chủ trương mà ông cho là “tốt,” ông cũng nhấn mạnh, rằng người Anh có câu tục ngữ “phải ăn mới biết bánh ngon,” và rằng “chính cách thực thi luật pháp, chính kinh nghiệm của mỗi công dân đối với sự thực thi luật pháp, mới xác định được sự thành bại của một chủ trương. Và chính mỗi người Việt Nam, cũng như chính phủ và những nhà đầu tư nước ngoài, cần phải nếm thử hương vị của sự phát triển mà Việt Nam đang đạt được.”

Tình trạng hối lộ, tham nhũng

Cách đây không lâu, vụ  4 viên chức công ty PCI của Nhật Bản hối lộ cho một quan chức Việt Nam cũng đã đặt ra nhiều câu hỏi về Luật và khả năng thực thi Luật tại Việt Nam.

Vụ hối lộ này  được phía Nhật Bản điều tra, bắt nguồn từ  những nghi vấn xung quanh việc vi phạm luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản.

Một luật sư hành nghề tại Việt Nam, là ông Nguyễn Vân Nam, nói rằng luật Việt Nam bất khả ứng dụng trong trường hợp này.

“Đạo luật thực sự có hiệu quả nhất để trị những hành vi này là luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Thế nhưng, luật Việt Nam, trong phần chống cạnh tranh không lành mạnh, lại không hề nêu hành động hối lộ hay tham nhũng như thế này như là hành động cạnh tranh không lành mạnh.”

Mặt khác, theo một luật sư đang hành nghề tại California, Hoa Kỳ, và cũng từng là giáo sư Luật tại Đại Học Chapman tại California, là ông Nhân Vũ, thì Việt Nam có luật nhưng không áp dụng luật.

“Tôi làm việc tại Việt Nam năm 1997-1998, theo tôi được biết từ đó đến nay cũng không có thay đổi nhiều. Tôi nhận thấy chính phủ ban hành rất nhiều luật, nhưng vấn đề là họ không theo luật. Có luật mà không theo luật thì cũng như là không có luật.”

Trở lại với bản thăm dò của PERC. Thăm dò này đưa đến kết quả: Hồng Kông được xếp hạng cao nhất, tiếp theo là Singapore, sau đó là hệ thống tư pháp của các quốc gia Nhật, Nam Hàn, Đài Loan và Philippines.  Những nước đứng cuối bảng gồm có Malaysia hạng bảy, sau đó là Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và Indonesia.

PERC đưa vào trong thăm dò của mình các yếu tố, như quyền sở hữu trí tuệ, tình trạng tham nhũng, tính minh bạch, cơ quan thi hành công vụ, tự do chính trị, kinh nghiệm và các tiêu chuẩn giáo dục của giới luật sư và thẩm phán.

Cũng theo The Economic Times, đại diện PERC nói rằng, hệ thống tư pháp càng tốt, thì tham nhũng càng thấp, quyền sở hữu trí tuệ càng được bảo đảm, và nền kinh tế càng thịnh vượng.

Có lẽ kết luận này có sự tương đồng với phát biểu của Bộ  Trưởng Jack Straw, đó là “Bằng chứng rõ ràng nhất về giá trị của luật pháp được thể hiện qua thực tế, rằng những quốc gia gặt hái được sự ổn định chính trị, xã hội, và kinh tế chính là những quốc gia duy trì được tinh thần của luật pháp.”

Một điều hiển nhiên, là tinh thần tôn trọng luật pháp đặt nền tảng cho thịnh vượng của quốc gia cũng như khẳng định tư thế của quốc gia ấy trên trường quốc tế.

Có lẽ, quan trọng hơn nữa, chính là tư thế của mỗi con người được nâng cao hơn trong môi trường tôn trọng pháp quyền. Bộ Trưởng Jack Straw nói, là “… Luật pháp có thể giúp người dân làm chủ cuộc sống trong sự nhận thức toàn diện về quyền và nghĩa vụ.”

Thiện Giao
RFA

Share