Việt Nam mua vũ khí và Liên minh Việt – Trung – Xô

Tam giác quan hệ Việt – Trung – Xô chủ yếu ra đời khi Chủ nghĩa cộng sản tràn sang Châu Á. Trong đó, Hồ Chí Minh đã đóng vai trò kết nối Liên Xô, Trung Quốc với Việt Nam bằng hai sự kiện: đọc Luận cương Lê-nin năm 1921, về Trung Quốc hoạt động và đặt chân lên biên giới Cao Bằng năm 1941. Từ đó đến vụ mua tàu ngầm và máy bay của Nga hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam đã liên minh nghiêng ngã trong tam giác ấy như thế nào?

Từ khi ra đời liên minh cộng sản này đến trước 1960, nhìn chung đó là một tam giác cố kết khép kín với quyết tâm biến lý luận Mac-Lênin thành thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ một lý luận, nhưng Liên Xô muốn có “Thế giới đại đồng” mà thực chất đến thời Staline đã biến thành chủ nghĩa bành trướng và chiếm đóng. Trung Quốc lại nặng với truyền thống Đại Hán mấy nghìn năm. Việt Nam thì nghiêng ngã không tự chủ, làm cho quan hệ ấy trở thành đại họa nhiều lần đổ lên đầu dân tộc. Ít nhất đến nay, có đến 05 lần tam giác liên minh ấy bị đổ gãy các cạnh liên kết của nó.

Lần thứ nhất vào những năm 1960 khi xuất hiện mâu thuẫn giữa Khơrutxop với chủ trương “chung sống hòa bình” trên toàn thế giới và Mao Trạch Đông muốn đẩy mạnh đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa tư bản trên chuyến tuyến “ai thắng ai”. Lúc đó, Việt Nam với phái chủ chiến trong Bộ chính trị đã quyết định ngã về phía Trung Quốc, ảnh hưởng sâu đậm đường lối của Mao, dẫn đến dân tộc phải gánh chịu 03 hậu quả lớn với không biết bao nhiêu nỗi oan: cải cách ruộng đất, xét xử nhóm Nhân văn – Giai phẩm và xét lại những lãnh đạo và nhà trí thức chống Đảng cộng sản. Cạnh nối Xô – Việt lúc này bị gãy bỏ do Việt Nam hướng về Trung Quốc.

Lần thứ hai là vào những năm 1969, khi biên giới Xô – Trung xảy ra xung đột vũ trang. Thực ra, hai nước đã mâu thuẫn từ lâu liên quan đến biên giới và tranh giành ảnh hưởng quyết định trong việc giúp cộng sản phía Bắc chọc thủng tuyến phòng thủ vĩ tuyến 17 xâm lược Việt Nam cộng hòa ở miền Nam. Theo Trung Quốc, “bạn của thù là thù”, Việt Nam là bạn của Liên Xô nên cũng là kẻ thù của Trung Quốc. Trung Quốc từng cản trở tàu lửa của Liên Xô xuyên nội địa đến Việt Nam và cả bất đồng trong việc Việt Nam ký kết Hiệp định Paris. Hậu quả là cạnh nối giữa Xô – Trung gấp gãy, đồng thời cũng bắt đầu tiềm tàng nguy cơ ở một cạnh nối khác trong giai đoạn tiếp theo.

Lần thứ ba sau 1975, khi Việt Nam áp dụng nguyên vẹn mô hình Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội mà biểu hiện rõ nhất ở ba điểm: cơ cấu bộ máy chức vụ trong Đảng và nhà nước, việc áp dụng nền sản xuất lớn, việc tham gia khối SEV và nhận viện trợ của Liên Xô. Lúc này, theo Trung Quốc, họ bị dồn ép bởi cộng sản Việt Nam là một “tiểu bá” phía Nam cùng với “đại bá” Liên Xô phía Bắc. Từ đó, cuộc chiến hai đầu biên giới diễn ra, biên giới Việt Trung đóng cửa hơn 10 năm, chuyện lấn đất vùng biên âm ỉ lại tiếp diễn. Việt Nam phải tìm một liên minh quân sự dựa vào, do đó Liên Xô có mặt ở Cảng Cam Ranh. Tình hữu nghị Việt – Xô, các công trình hợp tác, trao đổi mọi mặt diễn ra sâu rộng. Lần này, cạnh nối giữa Việt – Trung thật sự gãy vụn.

Lần thứ tư sau 1985, khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, không còn bám vào được khối SEV, Việt Nam lại quay về với Trung Quốc, chấp nhận “khép lại quá khứ” để học tập “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” bằng cách nuôi mèo trắng lẫn mèo đen. Nhờ đó, câu thơ ca ngợi tình hữu nghị Việt – Trung của Hồ Chí Minh, tinh thần“4 tốt”, “16 chữ vàng” … như có phép lạ hồi sinh quan hệ. Thực ra, để chấp nhận quay trở lại với Trung Quốc, Việt Nam đã đánh đổi một phần đất liền và biển đảo. Mặt khác, đường lối ngoại giao cũng mềm nhũn chi chi. Lần này, do không gian hậu Xô Viết diễn ra nhiều bất ổn mà nhất là chiến tranh ly khai dân tộc, cộng sản Việt Nam cảm nhận đó là một khu vực nguy hiểm, nên cạnh nối giữa Xô – Việt lại một lần nữa bị bỏ phế.

Lần thứ năm hiện nay đang diễn ra. Hoàn cảnh hôm nay là tình hữu nghị giữa cộng sản Việt – Trung đang thuận lợi: kim ngạch mua bán giũa hai nước tăng lên, việc phản đối Trung Quốc chiếm biển đảo chỉ là chiếu lệ, hai nước chủ trương tổ chức Năm hữu nghị Việt – Trung vào 2010… Nhưng người Việt trong và ngoài nước mạnh mẽ phản đối Trung Quốc chiếm biển đảo, bắt ngư dân, thiết lập các cơ sở hành chính, căn cứ quân sự trên các đảo đã chiếm của Việt Nam, lên án Đảng và nhà nước bạc nhược mãi quốc cầu vinh. Trong thế “tiến thoái lưỡng nan” đó, Việt Nam vừa có một phản ứng khá “nặng ký”: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giữa tháng 12-2009 trong một hội đàm chính thức, đã đặt mua máy bay và tàu ngầm quân sự của Nga. Sau hội đàm, thỏa thuận hợp tác các lĩnh vực dầu khí, điện lực, điện nguyên tử, ngân hàng, công – thương và ghi nhớ hợp tác quân sự cũng được ký kết. Rồi hàng loạt lời hứa: Tổng Bí thư sẽ thăm Nga, Tổng thống Nga sẽ đến Việt Nam dịp hội nghị cấp cao Nga – ASEAN cuối 2010, tổng thống Nga sẽ mời Chủ tịch nước Việt Nam dự kỷ niệm 65 năm chiến thắng phát xít, hai nước sẽ kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao. Theo đó, Hội hữu nghị Việt – Xô trong nước bắt đầu dự kiến nhiều chương trình hoạt động, cùng với Truyền hình Việt Nam tổ chức chương trình gặp mặt các thế hệ thầy trò Xô – Việt… Có vẻ sau khi phản đối Trung Quốc bắt ngư dân Việt Nam và lên tiếng đòi biển đảo bị mất mạnh hơn một bước, sau khi mở ra hàng loạt kết nối nghiêng về Nga, cạnh nối quan hệ Việt – Trung đang có dấu hiệu rạn nứt.

Đúng là ở lần thứ 5 này, mối quan hệ giữa 3 nước không còn là một tam giác cộng sản nữa. Nga ngày nay không còn là Liên Xô cũ, các quan hệ hợp tác, nhất là lĩnh vực mua bán vũ khí chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và vài nước đối đầu với Mỹ. Nga – Trung ngày nay cũng không còn là quan hệ tay đôi như thời cộng sản. Việc gặp nhau trong khối SCO và các cuộc tập trận chung định kỳ cũng không phải là liên minh xưa kia. Nga cũng rất cảnh giác Trung Quốc ăn cắp bí mật quân sự. Hay nói cách khác, cạnh nối giữa Nga – Trung đã biến đổi từ trong bản chất. Việt Nam từ khi kết nối với hai nước lớn, một mặt tinh thần là tư tưởng“quốc tế cộng sản” không dễ được rửa sạch ngay, một mặt vật chất chỉ dựa dẫm tìm kiếm điều kiện. Quan hệ liên minh lỏng lẻo không phải là giai đoạn tạm thời mà kéo dài này đã làm cho đất nước bị trả giá quá nhiều lần: theo chủ thuyết của Mao gây ra bao nỗi oan, áp dụng máy móc mô hình kinh tế Liên Xô tàn phá nội lực đất nước, nghiêng ngã về Trung Quốc bị chiến tranh biên giới và mất đất mất biển. Lần này, Việt Nam lại ngã về Nga trong việc mua vũ khí và nhiều hoạt động khác, phải chăng sẽ tất yếu dẫn đến cuộc đối đầu mới với Trung Quốc? Không nói đâu xa, mới vừa đây thôi lại tái diễn cảnh 43 ngư dân Quảng Ngãi đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa đã bị hải quân Trung Quốc bắt đem về đảo Phú Lâm mà Trung Quốc đã chiếm và một tàu khác cách đất liền khoảng 200 km ở Quy Nhơn bị một tàu lạ đâm chìm. Khi Việt Nam có máy bay và tàu ngầm, mâu thuẫn không chỉ ở mức độ nhỏ lẻ như trên.

Theo sách trắng quốc phòng Việt Nam, một tướng lĩnh cho biết: “Tranh chấp chủ quyền trên biển Đông đặt ra những thách thức mới cho quốc phòng Việt Nam. Nhưng theo tôi, tình hình phức tạp trên biển Đông không dẫn đến một cuộc xung đột về quân sự”. Tuy nhiên, những lý giải cho nhận định biển Đông sẽ không xung đột của vị tướng lĩnh quân sự này không có gì thuyết phục. Ngay quyết định mua vũ khí đã cho thấy nếu không dự phòng cho xung đột thì trang bị quân sự hiện đại để làm gì? Nếu nói nguyện vọng chung của các nước là tránh xung đột, trong khi Trung Quốc tham vọng làm chủ 80% Biển Đông, công bố bản đồ lãnh hải hình lưỡi bò là gì? Nếu nói các nước đều tôn trọng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 thì tại sao Việt Nam lại không đưa vấn đề ra làm rõ tại Liên Hiệp Quốc và Trung Quốc có tôn trọng luật này đâu? Nếu nói chủ trương của Đảng và Nhà nước là kiên trì giải quyết vấn đề Biển Đông bằng đối thoại thì Việt Nam cũng chưa bao giờ trực tiếp đối thoại với Trung Quốc làm rõ chủ quyền về biển đảo đã mất. Sự phản đối của Việt Nam như là “hô khẩu hiệu giữa trời” để xoa dịu người dân. Cùng với tuyên bố trên, sách trắng còn thể hiện những “tư duy nước đôi” khác rất lập lờ và thiếu dứt khoát: mặc dù có đủ bằng chứng chứng minh chủ quyền biển đảo nhưng vẫn sẵn sàng đàm phán hòa bình để giải quyết tranh chấp, Việt Nam không đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước nhưng sẽ kiên quyết giáng trả xâm lược…Khi mà ngư dân bị bắt vẫn không thấy tàu hải quân Việt Nam can thiệp bảo vệ thì có gì đảm bảo để tin quân đội của Đảng gìn giữ được đất nước qua những tuyên bố ấy?

Biển Đông từng ngày trở thành tấm bản đồ chiến sự da beo tương lai. Nơi giàu tài nguyên kinh tế này dẫn đến các nước đều chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc tranh chấp. Căn cứ tàu ngầm đảo Hải Nam của Trung Quốc thuộc Hạm đội Nam Hải đe dọa an ninh các nước Asean và cả Ấn Độ. Hình ảnh từ vệ tinh cho thấy đó là những hang sâu làm nơi neo đậu của 20 tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa hạt nhân tầm bắn từ 7200 km đến 12.800 km. Một căn cứ quân sự nổi xây trên đảo Trung Quốc chiếm của Việt Nam cũng chỉ cách Đà Nẵng không quá 150 hải lý. Về phía Đài Loan, nước này vừa đặt trước 3 triệu USD trong hợp đồng mua 8 tàu ngầm thông thường của Mỹ, bổ sung vào lực lượng hải quân. Philippines có 224 tàu chiến lớn nhỏ, là một trong số các nước cũng đòi chủ quyền các đảo ở quần đảo Trường Sa (Spratlys). Theo một nhật báo trong nước, Phó tư lệnh hải quân Amable Tolentino tuyên bố “sẵn sàng chiến đấu đến người lính và thủy thủ cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ”. Việc Việt Nam đặt mua báy bay và tàu ngầm sẽ trở thành đối tác quân sự lâu dài của Nga, căn cứ Đà Nẵng và Cam Ranh sẽ là “đại bản doanh” giữ lãnh hải và nói chung miền Trung là hình ảnh “lưng đeo gươm” cho đất nước. Biển Đông không những không được giải quyết tận gốc vấn đề chủ quyền, mà chỉ như nhồi thêm chất nổ vào thùng thuốc súng. Việc mua vũ khí và nối lại các quan hệ hữu nghị với Nga mặc dù nằm trong quan hệ đa phương ngày nay, nhưng cốt lõi cơ bản vẫn cho thấy Việt Nam không thoát ra khỏi đường lối ngoại giao thiếu tự chủ và ổn định đồng minh, nghiêng ngã tìm kiếm các điều kiện chỉ củng cố Đảng và chính phủ cầm quyền. Đây là tín hiệu phát đi cho thấy Việt Nam sẽ cố giữ biển đảo còn lại, tăng cường cân bằng quân sự trong khu vực, một khu vực mà Trung Quốc muốn làm đại chủ phân phối quyền lợi cho các nước còn lại. Việc mua bán đó không phản ánh đủ dũng khí và khả năng đòi lại biển đảo của cha ông mà Đảng trong nước đã dâng cho Trung Quốc.

Tam giác liên minh ngày này đã bị bung phá cạnh nối giữa Nga – Trung, vậy mà Việt Nam vẫn tuyên bố “phát huy các quan hệ truyền thống” còn lại, lúc thì nồng ấm bên này, lúc lại hâm nóng hữu nghị bên kia. Bao nhiêu lần dân tộc phải lãnh hậu họa từ lối ngoại giao nghiêng ngã đó chưa đủ sao? Rồi hậu họa đang diễn ra và sẽ diễn ra chưa lường hết được khi mà chưa ai tiên liệu được cạnh nối quan hệ giữa Việt – Trung có thêm lần nữa đổ gãy bằng chiến sự Biển Đông hay không…

Tân Nhân
19-12-09

Share