Tại sao Việt Nam cần sửa đổi căn bản và toàn diện hiến pháp? (IV)

Phần 4: Nhu cầu về cơ chế tam quyền phân lập thay vì tập trung dân chủ trong thời đại mới

Dư luận và chuyên gia hiện nay cũng lên tiếng đòi hỏi một cơ chế tam quyền phân lập thay vì phân công phân nhiệm trong hệ thống quyền lực tập trung. Nhưng liệu có thể có tam quyền phân lập trong khi vẫn lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nền tảng? Chúng tôi cho rằng để đạt được ý nguyện về một Nhà nước pháp trị với nguyên tắc tam quyền phân lập để kiểm soát và cân bằng quyền lực, cần xem lại nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ về bản chất ban đầu là nguyên tắc tổ chức của một mô hình đảng chính trị. Nhưng tổ chức Nhà nước không phải là tổ chức đảng phái và lịch sử đã chứng minh tổ chức Nhà nước cần đảm bảo kiểm soát và cân bằng quyền lực, để Nhà nước không lấn lướt quyền làm chủ của Nhân dân và không áp đặt kiểm soát toàn trị lên đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội.

Xem thêm:

Đảng Dân chủ Việt Nam giới thiệu đề xuất sửa đổi Hiến pháp

Tại sao Việt Nam cần sửa đổi căn bản và toàn diện hiến pháp?

Bản đề xuất khung soạn thảo hiến pháp của toàn dân

Nguyên tắc tập trung dân chủ – nguyên tắc chính trị kế thừa từ mô hình Sô-viết

Về cấu trúc hệ thống chính quyền mà bản Hiến pháp hiện nay quy định, bản Hiến pháp hiện nay dựa trên một mô hình không hề tương thích với Nhà nước pháp trị và dân chủ. Sự không tương thích này bắt nguồn từ nguyên tắc nền tảng – nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên thủy là một nguyên tắc tổ chức chính trị của đảng cộng sản, nguyên tắc tập trung dân chủ này đã được áp dụng vào tổ chức quyền lực Nhà nước để tập trung quyền lực vào tay Đảng Cộng Sản Việt Nam, và biến đảng duy nhất này trở thành quyền lực tối cao trên thực tế, đứng trên cả các thiết chế Nhà nước hiến định, kể cả Quốc hội.

Kể từ Hiến pháp 1959, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức Nhà nước cơ bản của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[xx] Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.”

Thế nào là nguyên tắc tập trung dân chủ? Trước tiên, cần khẳng định rằng nguyên tắc dân chủ tập trung là nguyên tắc tổ chức của đảng cộng sản – Đảng Cộng Sản Liên xô và được Đảng Cộng Sản Việt Nam sao chép lại. Nguyên tắc này tập trung quyền lực về Trung ương, cụ thể là Bộ chính trị đảng cộng sản: “Cá nhân đảng viên phải phục tùng tổ chức và kỷ luật của đảng, thiểu số phục tùng đa số, tổ chức cấp dưới phục tùng tổ chức có thẩm quyền cấp trên, toàn đảng phục tùng Trung ương.” Trên lý thuyết, các đảng viên có quyền “thảo luận một cách dân chủ thẳng thắn các công việc của đảng” nhưng phải chấp hành nghị quyết của đảng ngay cả khi có điểm không đồng ý. “Yếu tố “tập trung” của nguyên tắc này đòi hỏi sự thực thi không điều kiện các quyết định của cấp trên bởi cấp dưới, và các quyết định của đa số bởi thiểu số. Yếu tố “dân chủ” là sự bầu cử các lãnh đạo đảng ở mỗi cấp bởi đại hội đại biểu. Tuy vậy, trên thực tế, mặt “dân chủ” của tập trung dân chủ chỉ là hình thức, trong đó quá trình bầu cử chỉ là hợp thức hóa kết quả đã rồi của sự cố vấn và thương thuyết bởi các lãnh đạo hạt nhân và các cấp lãnh đạo cao nhất của đảng.”[xxi]

Nguyên tắc tập trung dân chủ đã đặt đảng duy nhất lãnh đạo lên trên các cơ quan Nhà nước Hiến định. Thứ nhất, tập trung dân chủ là sự phân nhiệm (phân công nhiệm vụ) giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp, tòa án – cả ba nhánh quyền lực đều hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Thứ hai và quan trọng hơn cả, nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện qua cơ chế song trùng – ở cả trung ương và chính quyền địa phương, mỗi cơ quan Nhà nước đều có một đơn vị đảng với các đảng viên nắm các vị trí then chốt của cơ quan Nhà nước đó. Vì các đảng viên này phải tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ và phục tùng cấp trên và Trung ương, Đảng Cộng Sản trở thành cơ quan quyền lực của các cơ quan Nhà nước đó. Sự mập mờ này dẫn đến hiện tượng chồng tréo giữa trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước và cơ quan đảng, giữa các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng Sản. Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền sửa đổi Hiến pháp, thế nhưng vấn đề sửa đổi Hiến pháp phải chờ nghị quyết của Đảng, như một giáo sư thuộc Hội đồng lý luận Trung ương từng phát biểu: “Về nguyên tắc, bổ sung được cương lĩnh 1991 [của Đảng Cộng Sản Việt Nam] thì sẽ mở đường cho sửa đổi Hiến pháp và những cải cách mạnh mẽ hơn về thể chế.”[xxii] Rõ ràng, đảng lãnh đạo đứng trên Hiến pháp và Quốc hội.

Nhận xét này một lần nữa được khẳng định bởi cựu Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, một người đã có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong hệ thống: “Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng. Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ thị, nghị quyết của Đảng mới là tối thượng. Thực chất chúng ta có hai hệ thống quyền lực song song, đó là hệ thống của Đảng và hệ thống Nhà nước đi kèm theo là hai hệ thống tòa nhà của hai cơ quan đảng và nhà nước cồng kềnh chưa từng có. Đây là mô hình của cộng hòa Xô Viết. Thông lệ quốc tế không có như vậy. Quốc hội là nhánh lập pháp có quyền lực cao nhất, song cũng còn nhiều hình thức, thực chất là Trung ương, Bộ Chính trị quyết. Chính phủ là nhánh hành pháp song cũng rất yếu, chủ yếu là chấp hành chỉ thị nghị quyết của Đảng. Chủ tịch nước từ chỗ tập trung thực quyền như khi Bác Hồ đảm nhận, ngày nay đã dần trở thành hình thức, nghi lễ. Quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ra làm ba nơi, ba người nắm giữ, đó là Tổng Bí thư thống lĩnh lực lượng vũ trang, Thủ tướng đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch nước đại diện cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng không thực quyền. Tòa án là nhánh tư pháp lại càng yếu thế. Cả ba nhánh quyền lực đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Ban lãnh đạo Đảng (Bộ Chính trị – Ban Chấp hành Trung ương). Quyền lực nhà nước được phân công ra làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy, Đảng trở thành ông vua tập thể rồi. Không phải dân chủ nữa mà là đảng chủ rồi. Mô hình của cộng hòa Xô Viết là như vậy.”[xxiii]

Sự lỗi thời của nguyên tắc tập trung dân chủ trong nền kinh tế thị trường và thời đại toàn cầu hóa

Bàn về sự “ưu việt,” đúng, sai của nguyên tắc tập trung dân chủ như là một nguyên tắc tổ chức chính trị của một đảng phái không phải là mục tiêu và cũng không nằm trong khuôn khổ của bản đề xuất này. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là nguyên tắc dân chủ tập trung không thể là nguyên tắc tổ chức nhà nước trong một nhà nước dân chủ và pháp trị. Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể chọn bất kỳ nguyên tắc nào họ muốn cho tổ chức của họ. Thế nhưng, tổ chức Nhà nước không phải là một tổ chức đảng phái và nguyên tắc dân chủ tập trung không thể được áp đặt như nguyên tắc tổ chức Nhà nước mà không được nhân dân phúc quyết. Bản chất của cách tổ chức này không khác gì cách tổ chức của triều đình phong kiến – thay vì quyền lực tập trung vào một người là nhà vua, nay quyền lực tập trung vào một nhóm người là lãnh đạo đảng, để Đảng Cộng Sản trở thành “ông vua tập thể” như cựu chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã nêu.

Thế nhưng, theo chúng tôi, thứ nhất, quyền lực Nhà nước cần được phân tán để có kiểm soát và đối trọng, thay vì tập trung vào bất kỳ một cơ quan hay một nhóm người nào. Thứ hai, mỗi nhánh quyền lực Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân hoặc đại biểu của nhân dân, chứ không phải trước bất kỳ một cơ quan chính trị “Trung ương” nào. Đặc biệt, nền kinh tế thị trường đòi hỏi cơ chế Nhà nước phù hợp để vận hành lành mạnh và phát triển thịnh vượng, như giảng viên luật Bùi Ngọc Sơn đã viết: “Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường luôn song hành với nhau. Chính quyền không thể điều hành hiệu quả nền kinh tế thị trường nếu chính quyền đó không tôn trọng các chuẩn mực pháp quyền. Ngược lại, một nhà nước cực quyền toàn trị không thể chấp nhận kinh tế thị trường. Vì vậy, để thúc đẩy cho kinh tế thị trường phát triển, xã hội thịnh vượng hơn, những sửa đổi hiến pháp trong tương lai phải định hướng chính quyền vào các chuẩn mực pháp quyền […]: tôn trọng các quyền con người, phân công quyền lực, tài phán hiến pháp, tư pháp độc lập, chính quyền minh bạch và trách nhiệm…”[xxiv] Các chuẩn mực này rõ ràng không có được trong một cơ chế tập trung dân chủ.

Nhiều trí thức trong nước đã lên tiếng thẳng thắn đòi thay đổi “cơ chế” tập trung dân chủ này. Giáo sư Trần Đình Bút[xxv] trong một bài viết trên báo pháp luật thành phố năm 2006, nhận định: “Bộ máy quản lý nhà nước của nước ta hiện nay chỉ là một bộ phận trong thể chế quản lý của đất nước, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng Cộng Sản Việt Nam, như điều 4 Hiến pháp đã quy định, coi đó là một nguyên tắc cơ bản. Nguyên tắc này hoàn toàn cần thiết trong điều kiện những cuộc chiến tranh quyết liệt một mất một còn trước kẻ thù của dân tộc, nhưng trong điều kiện xây dựng kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cần phải xem lại. Nếu tiếp tục vận dụng nguyên tắc này như thời gian qua thì khó có thể hy vọng đổi mới, hoàn thiện tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước một cách có hiệu quả.”[xxvi]

Một chế độ dân chủ “của dân, do dân, vì dân” phải lấy ý chí và nguyện vọng của nhân dân làm nền tảng, trong đó quyền lực Nhà nước phải do nhân dân thỏa thuận trao cho qua bầu cử tự do và công bằng. Như giáo sư Trần Đình Bút đã khẳng định: “đã là Nhà nước pháp quyền thì pháp luật là trên hết. Nhà nước chịu sự chi phối của pháp luật, hoạt động của đảng cũng chịu sự chi phối của pháp luật… Đảng không thể đặt mình trên pháp luật vì đó là ý nguyện của nhân dân.”[xxvii]

Tam quyền phân lập – cơ chế nhà nước tiến bộ của nhân loại bảo đảm chủ quyền tối cao của Nhân dân

Các tư tưởng về một khế ước xã hội trong đó nhân dân trao quyền cho Nhà nước và hạn chế quyền lực Nhà nước khởi nguồn từ Thomas Hobbes, John Locke, Jean Jacques Rousseau – các nhà tư tưởng lỗi lạc của châu Âu vào thế kỷ 17, 18. Nhưng Montesquieu mới chính là cha đẻ của lý thuyết tam quyền phân lập. Trong tác phẩm Vạn pháp tinh lý, kết quả của hai mươi năm trời đằng đẵng quan sát, nghiên cứu, suy ngẫm, ông đã mô tả và phân tích cách tổ chức chính quyền nước Anh, sự phân chia quyền lực Nhà nước vào các cơ quan khác nhau, cũng như sự kiểm soát và đối trọng giữa các cơ quan đó để làm nên một cơ chế Nhà nước hiệu quả nhưng tránh được lạm quyền. Công trình này xuất phát từ mối ưu tư về sự tập quyền của chế độ quân chủ chuyên chế nước Pháp, đất nước của ông, nơi cả ba quyền hành pháp, lập pháp, tòa án tập trung vào tay nhà Vua. Thuyết tam quyền phân lập của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng, đặc biệt là cuộc cách mạng Mỹ, nơi bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới được soạn thảo năm 1787 và thông qua năm 1788 với nguyên tắc tam quyền phân lập là nền tảng của cấu trúc quyền lực Nhà nước.

Nhận xét về xu hướng tiến gần đến cách tổ chức Nhà nước tam quyền phân lập trong một thập niên trở lại đây và trả lời câu hỏi của báo chí liệu điều này có mâu thuẫn với những chỉ trích lâu nay rằng đó chỉ là “một hình thức dân chủ giả hiệu của tư sản,” nguyên Bộ trưởng Bộ tư pháp Nguyễn Đình Lộc khẳng định: “Khi phê phán tam quyền phân lập, ta không thấy được công lao của những người phát hiện ra có ba thứ quyền trong một nhà nước. Chúng ta đã nhìn thuần túy từ góc độ giai cấp mà không thấy rằng đó là một hiện tượng xã hội có tính khách quan. Nó tồn tại như thế thì nó phải thể hiện dưới ba phương thức đó và phải có sự phân công thì nó mới phát triển được.”[xxviii]

Đến thời điểm này, nhận thức về nhu cầu phân công quyền lực để có kiểm soát và đối trọng đã không còn là một tư duy mới mẻ tại Việt Nam. Cựu chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã diễn tả nhu cầu tam quyền phân lập thật mạch lạc, thuyết phục khi bàn về việc sửa đổi Hiến pháp vào năm 2011. Một trong ba nhu cầu cốt lõi của việc sửa đổi Hiến pháp, theo ông, là “vấn đề phân công và kiểm soát quyền lực Nhà nước.” Ông phân tích tiếp: “Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực. Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng. Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa… Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực. Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện. Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng, cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội – Chính phủ – Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.”[xxix]

Phân tích tiếp về nhu cầu hiện tại của Việt Nam, ông cho rằng: “Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946. Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình. Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ. Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp. Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.”[xxx]

Từ nhận định thực tế đó, ông khẳng định: “Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác. Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.”[xxxi]

Cựu chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, một cách thuyết phục, đã nói thay rất nhiều người về nhu cầu cần có cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay.

(còn tiếp)

Ngày 31 tháng 12 năm 2010

Đảng Dân Chủ Việt Nam
Nguyễn Sĩ Bình và Ban Nghiên cứu Hiến pháp

Ban Nghiên cứu Hiến pháp: Thạc sĩ Nguyễn Thị Hường, Luật sư Nguyễn Tường Bá, Thạc sĩ Nguyễn Quốc Ánh, Thạc sĩ Nguyễn Hùng Việt, Luật sư Trần Minh Quốc, Luật sư Nguyễn Xuân Phước, và các cộng sự.

Chú thích:

[xx] Điều 4 Hiến pháp 1959: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.”

[xxi] GARETH PORTER, VIETNAM: THE POLITICS OF BUREAUCRATIC SOCIALISM 101-02 (Cornell University Press, 1993).

[xxii] VnExpress, Sửa Đổi Hiến Pháp – Hãy Lắng Nghe Mệnh Lệnh Cuộc Sống, 17/10/2007 (phỏng vấn Giáo sư Hoàng Chí bảo, Ủy viên thư ký thường trực, Hội đồng Lý luận Trung ương – cơ quan thuộc Bộ chính trị).

[xxiii] TuanVietnam – Vietnamnet, Nguyên Chủ tịch Quốc hội khuyến nghị đổi mới hệ thống chính trị, 2010.

[xxiv] Bùi Ngọc Sơn, Một Hiến pháp hoàn hảo hơn, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 2010.

[xxv] Giáo sư kinh tế Trần Đình Bút là phó chủ tịch Hội khoa học Kinh tế và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh, thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng chính phủ Việt Nam,

[xxvi] BBC Việt ngữ, Cần Xem Lại Điều 4 Hiến pháp, 29/03/2006.

[xxvii] BBC Việt ngữ, Cần Xem Lại Điều 4 Hiến pháp, 29/03/2006.

[xxviii] SGTT, Phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lộc – Khi phê phán tam quyền phân lập: đúng hay sai?, 2007.

[xxix] TuanVietnam, Cựu chủ tịch Quốc hội bàn việc sửa Hiến pháp, 2010.

[xxx] Id.

[xxxi] Id.

Share

One Response to “Tại sao Việt Nam cần sửa đổi căn bản và toàn diện hiến pháp? (IV)”

Read below or add a comment...

  1. Nguyễn Tường Bá says:

    Giờ đây đã có trên 4300 trí thức kiến nghị đòi một hiến pháp dân chủ ( Các ông Phạm đình Lộc,Nguyễn Quang A v.v..)
    Một phong trào dân chủ đã bùng nổ mà chúng ta biết rằng không gì cản nổi.
    Ý dân là ý trời.
    Nguyễn Tường Bá